Từ năm 2026, việc giải quyết hưởng trợ cấp thất
nghiệp được thực hiện theo Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định số
374/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về
bảo hiểm thất nghiệp.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục kế thừa
nguyên tắc cơ bản là mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình
quân tiền lương của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất
nghiệp, nhưng cụ thể hóa và siết chặt hơn một số nội dung quan trọng.
Nghị định làm rõ cách xác định 6 tháng liền kề
trong trường hợp có thời gian gián đoạn đóng, khẳng định mức hưởng tối đa không
vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.
Đồng thời, quy định chi tiết cách tính tháng hưởng
theo tháng dương lịch, từ ngày bắt đầu hưởng đến ngày tương ứng của tháng sau
trừ một ngày (hoặc đến ngày cuối tháng nếu tháng sau không có ngày tương ứng).
Đặc biệt, Nghị định quy định cơ quan Bảo hiểm
xã hội phải chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5
ngày làm việc, kể từ khi hết thời hạn nhận quyết định hưởng trợ cấp, hoặc hết
thời hạn thông báo tìm kiếm việc làm.
So với Nghị định 61/2020/NĐ-CP chủ yếu tập
trung vào thủ tục, phiếu hẹn, trình tự ban hành và hủy quyết định hưởng, thì
Nghị định 374/2025/NĐ-CP nhấn mạnh rõ trách nhiệm về thời hạn chi trả, góp phần
nâng cao tính kịp thời, minh bạch trong thực hiện chế độ.
Theo Nghị định số 374/2025/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị
hưởng trợ cấp thất nghiệp gồm 3 thành phần cơ bản.
Thứ nhất, là đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp (theo
mẫu). Đây là văn bản thể hiện nguyện vọng của người lao động về việc hưởng trợ
cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, là giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp
đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc. Các giấy tờ này có thể
là hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn, hoặc đã hoàn thành công
việc theo hợp đồng; quyết định thôi việc, quyết định sa thải, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc; thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng
làm việc; hoặc văn bản xác nhận của người sử dụng lao động, trong đó thể hiện
rõ thông tin người lao động, loại hợp đồng đã ký, lý do và thời điểm chấm dứt hợp
đồng.
Đối với trường hợp người lao động làm việc theo
hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng, giấy tờ xác nhận
chấm dứt hợp đồng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng lao động
đã ký.
Trường hợp đặc biệt, khi đơn vị sử dụng lao động
không còn người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền, người lao động
có thể đề nghị Sở Nội vụ thực hiện xác nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động
theo trình tự, thủ tục được quy định cụ thể tại Nghị định.
Thành phần thứ ba của hồ sơ là sổ bảo hiểm xã hội.
Cơ quan Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm xác nhận thời gian đóng bảo hiểm thất
nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn theo quy định,
làm căn cứ để giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp.
Về phương thức nộp hồ sơ, người lao động trong
thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, hoặc
chấm dứt làm việc, nếu chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp,
nộp 1 bộ hồ sơ trực tiếp tại tổ chức dịch vụ việc làm công, nơi người lao động
có nhu cầu nhận trợ cấp thất nghiệp, hoặc nộp qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Trường hợp người lao động gặp khó khăn do ốm
đau, thai sản, tai nạn, thiên tai, dịch bệnh hoặc sự kiện bất khả kháng khác, hồ
sơ có thể được nộp thông qua người được ủy quyền, hoặc gửi qua dịch vụ bưu
chính theo quy định.
Nghị định số 374/2025/NĐ-CP cũng quy định rõ
trách nhiệm của tổ chức dịch vụ việc làm công trong việc tiếp nhận, kiểm tra hồ
sơ, hẹn trả kết quả và trình cơ quan có thẩm quyền quyết định việc hưởng trợ cấp
thất nghiệp cho người lao động.
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa rõ thông
tin, người lao động sẽ được yêu cầu bổ sung, hoàn thiện để bảo đảm việc giải
quyết đúng quy định. Nếu người lao động không đủ điều kiện hưởng trợ cấp
thất nghiệp thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.