Theo đó, một số đã tiến hành tăng lãi suất và phát tín hiệu có thể có những đợt nâng tiếp theo để kiểm soát lạm phát.
Hiện tại, lãi suất chủ chốt đã cao hơn nhiều nếu so với mức siêu thấp khi bắt đầu chu kỳ thắt chặt gần đây nhất vào năm 2022. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách tiền tệ đang đối mặt với áp lực từ thị trường đòi hỏi phải chứng minh rằng họ sẵn sàng tăng lãi suất lên cao hơn để kiềm chế kỳ vọng lạm phát và đà tăng của lợi suất trái phiếu dài hạn vốn đang ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) là ngân hàng trung ương lớn mới nhất có động thái thắt chặt chính sách vào hôm 18/9, sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất chỉ hai ngày trước đó và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng đã thực hiện động thái tương tự vào tuần trước. Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) đã giữ nguyên lãi suất trong tuần vừa rồi, nhưng cảnh báo rằng áp lực lạm phát có thể đòi hỏi cơ quan này phải tăng lãi suất trong thời gian tới.
Thống đốc Kazuo Ueda của BOJ nói “giai đoạn chính sách của chúng tôi đã thay đổi", khi cơ quan này phát đi tín hiệu sẵn sàng tiếp tục tăng lãi suất lên mức cao hơn.
Những động thái tăng lãi suất này phản ánh mối quan ngại chung của các nhà hoạch định chính sách tiền tệ rằng giá năng lượng tăng cao do cuộc chiến ở Vùng Vịnh đang đặt ra nguy cơ có một đợt leo thang mới của chi phí sinh hoạt, chỉ vài năm sau khi lạm phát tăng dữ dội sau đại dịch Covid-19.
Sự dịch chuyển trên cho thấy tương phản rõ rệt về tâm lý so với cách đây chỉ hơn 1 tháng, thời điểm khi thỏa thuận ngừng bắn ngắn ngủi giữa Mỹ và Iran còn khuyến khích các nhà đầu tư và giới hoạch định chính sách đặt cược rằng căng thẳng sẽ xuống thang và giá năng lượng sẽ hạ nhiệt nhanh. Sự sụp đổ của thỏa thuận đó, cùng với việc lực lượng Houthi tiến quân dọc theo bờ Biển Đỏ, đánh dấu một mối đe dọa mới đối với nguồn cung dầu toàn cầu, dẫn tới thay đổi triển vọng lạm phát và chính sách tiền tệ.
Phó chủ tịch ECB, ông Boris Vujcic, một cuộc trả lời phỏng vấn hãng tin Reuters vào ngày 18/9, cho biết: "Kỳ vọng hiện nay là giá năng lượng sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn". Ông cũng cảnh báo nếu lạm phát duy trì ở mức cao qua mùa thu, ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình và hành vi tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế cũng sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực. Tuy nhiên, ECB không đưa ra một lộ trình lãi suất được định sẵn, mà nhấn nhấn mạnh rằng các quyết định lãi suất tiếp theo sẽ được đưa ra trên cơ sở từng cuộc họp.
Nguồn thạo tin tiết lộ với Reuters rằng ECB đang xem xét tiếp tục tăng lãi suất lần thứ ba trong năm nay, có thể vào tháng 10, nhưng khả năng cao hơn là vào tháng 12.
Chuyên gia Greg Fuzesi tại ngân hàng JPMorgan Chase nhận định: "Mức đỉnh của lãi suất phụ thuộc vào các sự kiện ở Trung Đông. Không thể loại trừ khả năng ECB tăng lãi suất lên mức trên 3%”, từ mức 2,5% hiện nay.
Tại Mỹ, bất chấp lời kêu gọi công khai từ Tổng thống Donald Trump về việc cắt giảm lãi suất, Chủ tịch Fed Kevin Warsh đã cùng các đồng nghiệp của ông tại Fed đã thực hiện động thái tăng lãi suất lần đầu tiên sau hơn 3 năm vào hôm 16/9. Trong cuộc họp báo sau cuộc họp của Fed, ông Warsh không cho rằng điều kiện tài chính hiện nay đã đạt tới trạng thái hạn chế - một cách diễn đạt phản bác lại lập luận rằng chính sách tiền tệ đang gây tổn hại cho nền kinh tế.
Quyết định tăng lãi suất với sự đồng thuận 100% trong Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC), cùng những bình luận của ông Warsh sau đó, được coi là đặt nền móng cho việc thắt chặt hơn nữa và trấn an các nhà đầu tư rằng Fed giữ vững cam kết chống lạm phát. Ông Andrew Lake, Giám đốc đầu tư tại công ty Mirabaud Asset Management, nhận xét: "Sau khi tăng lãi suất, Fed đã lấy lại được một phần uy tín bị mất trước đó”.
Dự báo kinh tế được cập nhật hàng quý của Fed cho thấy 16 trong số 18 nhà hoạch định chính sách dự báo ngân hàng trung ương này sẽ có thêm ít nhất một đợt tăng lãi 0,25 điểm phần trăm nữa trước khi kết thúc năm 2026. Chủ tịch Fed Kansas City, ông Jeff Schmid, nhận định vào hôm 18/9: "Vấn đề lạm phát của chúng tôi không chỉ liên quan tới giá năng lượng".
So với chu kỳ trước, chu kỳ thắt chặt lần này của các ngân hàng trung ương toàn cầu được dự đoán sẽ giảm cả về cường độ và tốc độ tăng lãi suất, chủ yếu vì lạm phát không tăng mạnh như trước.
Các dự báo mới nhất của Fed cho thấy ngay cả những nhà hoạch định chính sách “diều hâu” nhất cũng chỉ kỳ vọng lãi suất đạt mức 4,25-4,5% vào cuối năm 2027, chỉ cao hơn 0,5 điểm phần trăm so với hiện tại, và sẽ giảm sau đó. Trong giai đoạn 2022-2023, Fed đã tăng lãi suất chính sách tổng cộng 5,25 điểm phần trăm, đạt đỉnh ở mức 5,25-5,5%.
Sau khi công bố quyết định giữ nguyên lãi suất vào ngày 17/9, BOE cho biết có thể phải tăng lãi suất nếu cuộc chiến tranh ở Trung Đông tiếp diễn. Tuyên bố được các nhà phân tích nhận định là một sự thay đổi rõ ràng trong quan điểm của BOE, định vị để ngân hàng trung ương này hành động theo Fed và ECB.
Một số nhà phân tích cho biết họ kỳ vọng BOE sẽ chỉ tăng lãi suất một lần rồi thôi. Tuy nhiên, sau cuộc họp vừa rồi của BOE, thị trường tài chính định giá khả năng cơ quan này sẽ có 4 lần tăng lãi suất với lượng tăng mỗi lần là 0,25 điểm phần trăm trong vòng 1 năm tới.
Khi áp lực kinh tế gia tăng, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thường là nơi nhiều nền kinh tế tìm đến để được hỗ trợ, từ Argentina với những cuộc khủng hoảng tài chính liên tiếp đến Ukraine với nhu cầu vốn trong thời chiến…
Sau nhiều năm xuất khẩu ồ ạt sang châu Âu, gây sức ép lên lợi nhuận doanh nghiệp và việc làm tại khu vực này, Trung Quốc đang tạm thời xuống thang để có thêm thời gian đàm phán...
Nỗ lực tăng cường an ninh lương thực của Trung Quốc đã dẫn tới tình trạng dư thừa một lượng lớn thịt và sữa mà nước này không thể tiêu thụ hết...
Đức được cho là sẽ hối thúc Liên minh châu Âu (EU) nhanh chóng áp hạn ngạch đối với các nhóm hàng hóa khác nhập khẩu từ Trung Quốc, tương tự như mức trần mà khối này dự định áp dụng đối với xe hybrid...
“Tăng trưởng tất nhiên là có ích, nhưng không thể tạo ra những điều chỉnh cần thiết đủ nhanh. Mỹ cần phải có thêm các biện pháp tài khóa cụ thể”, Tổng giám đốc IMF nói
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.