
ETV2 là giai đoạn 2 của Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật châu Âu, trị giá 12 triệu Euro nhằm hỗ trợ cải cách đối với các cơ quan kinh tế và tài chính của Chính phủ Việt Nam trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế.
Hiện tại, dự án đã hoàn tất việc giải ngân và được nhà tài trợ đánh giá cao.
Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Bá Toàn, Phó vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính xung quanh dự án này.
Thưa ông, so với ETV1 thì ETV2 hỗ trợ những vấn đề gì, thuộc những lĩnh vực nào?
ETV2 củng cố việc hoạch định chính sách cũng như thiết lập và áp dụng các công cụ thực hiện với trọng tâm 3 lĩnh vực chính, gồm: thúc đẩy chương trình cải cách chính sách tài chính và các vấn đề về thuế và hải quan; tăng cường các công tác thiết lập chuẩn mực kế toán và kiểm toán, xây dựng bảo hiểm và kiểm soát ngành bảo hiểm; củng cố công tác chuẩn bị số liệu thống kê, phản ánh những thay đổi nhanh chóng ảnh hưởng tới môi trường kinh tế Việt Nam.
Hiện tại, ETV 2 đang được triển khai đúng kế hoạch với tính tự chủ rất cao của các bên tham gia phía Việt Nam và sự hỗ trợ, giám sát chặt chẽ của Phái đoàn Uỷ ban châu Âu tại Việt Nam, cùng những ý kiến tư vấn của tập đoàn tư vấn quốc tế ATOS và AFAQ/Afnor.
Ông có thể cho biết về những kết quả cụ thể của ETV2?
Sau 2 năm thực hiện, ETV2 đã triển khai hàng trăm hoạt động lớn nhỏ, đạt được kết quả về nhiều mặt.
Thứ nhất, dự án giúp cải thiện các chính sách tài chính và dịch vụ tư vấn pháp lý; tăng cường đầu vào và tính hiệu suất của hệ thống thu trong nước.
Thứ hai, thông qua việc thực hiện, tính hiệu quả và hiệu suất của hệ thống thuế, luật và thủ tục hải quan được tăng cường.
Thứ ba, các tiêu chuẩn quốc gia về chế độ kế toán, kiểm toán và bảo hiểm được nâng cao để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Thứ tư, giúp tăng cường phân tích, xử lý số liệu và quản lý thông tin của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Các hợp phần 1, 2, 3 do Vụ Chính sách thuế, Vụ Ngân sách Nhà nước, Vụ Pháp chế, Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) thực hiện đã thúc đẩy quá trình xây dựng thể chế bằng các luật như: Luật Ưu đãi thuế doanh nghiệp, Luật Thuế môi trường, Luật Thuế nhà đất, Luật Quản lý thuế, minh bạch hóa hệ thống quản lý thuế, cải thiện công tác dự báo thu, hệ thống khai báo hải quan một cửa...
Trong hợp phần 4, dự án đã giúp đào tạo các chuẩn mực kế toán quốc tế về doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuẩn mực hợp nhất kinh doanh, kế toán doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng... chuẩn bị cho việc soạn thảo Luật Kiểm toán độc lập.
Thời gian còn lại, ETV2 tiếp tục giúp đỡ Bộ Tài chính nghiên cứu về chuẩn mực kế toán công cụ tài chính (chuẩn mực 32, 39, 07...) nhằm soạn thảo và ban hành trong năm 2008 thông tư hướng dẫn một số công cụ tài chính (đã có tại Việt Nam) và chuẩn bị cho việc ban hành chuẩn mực kế toán công cụ tài chính và ban hành chế độ kế toán ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Về phía các nhà tài trợ, quan điểm của họ trong việc đánh giá kết quả thực hiện dự án này ra sao?
Các bên tham gia đều đánh giá kết quả đạt được của dự án ETV2 là rất khả quan. Tất nhiên, việc đánh giá phải đặt trong mối tương quan về thời gian, nguồn lực và hoàn cảnh thực tế.
Có thể nói, dự án ETV2 thực hiện được hơn 2 năm và sẽ kết thúc vào ngày 31/12/2008. Trong thời gian triển khai, dự án đã huy động nguồn lực tối đa về cả tài chính và con người bao gồm nguồn tài trợ, nguồn vốn đối ứng, các chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước, các công chức kiêm nhiệm... cho các hoạt động của dự án, đảm bảo thực hiện dự án theo đúng cam kết với nhà tài trợ.
Với kết quả đạt được như vậy, liệu các nhà tài trợ có giải ngân tiếp giai đoạn 3 không, thưa ông?
Tôi tin chắc rằng, với kết quả như vậy, sẽ không có lý do gì để các nhà tài trợ không tiếp tục hỗ trợ Việt Nam cải cách trong các lĩnh vực này.
* Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật châu Âu cho Việt Nam hiện gồm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 (ETV 1) được thực hiện từ 1994 đến 2000, đã hỗ trợ nhiều hoạt động quan trọng của nhiều lĩnh vực, trong đó có việc xây dựng Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam năm 2000, Luật Kế toán năm 2003...
Giai đoạn 2 (ETV 2) của chương trình có tổng ngân sách hơn 12 triệu Euro được ký kết năm 2003, chính thức triển khai vào cuối 2005 và dự kiến kết thúc vào cuối 2008.
Chính phủ quyết định gia hạn chính sách thuế ưu đãi 0% đối với xăng dầu đến hết 30/9 nhằm đảm bảo nguồn cung năng lượng. Đồng thời, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng được khôi phục từ ngày 1/7, tạo sự cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp và duy trì nguồn thu ngân sách nhà nước…
Bộ Tài chính cho biết dù luật đã quy định thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng thuộc diện chịu thuế nhưng hiện chưa có quy định cụ thể về mức thuế suất hay thời điểm áp dụng, do đó chưa thể triển khai trong thực tế…
Bộ Tài chính đề xuất kéo dài thời hạn nộp một số loại thuế và tiền thuê đất trong năm 2026 với tổng quy mô ước tính khoảng 125.000 tỷ đồng. Giải pháp này nhằm tạo thêm dư địa tài chính cho doanh nghiệp và người dân, qua đó góp phần duy trì đà phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế...
Cơ quan thuế cảnh báo tình trạng gian lận hoàn thuế đang gia tăng trên môi trường số với nhiều thủ đoạn tinh vi, lợi dụng đặc tính ẩn danh và xuyên biên giới của thương mại điện tử. Qua công tác giám sát, 5 kịch bản gian lận được chỉ rõ, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải siết chặt quản lý và tăng cường kết nối dữ liệu liên ngành…
Bộ Tài chính đề xuất phân chia người nộp thuế thành ba nhóm theo mức độ tuân thủ và rủi ro, nhằm phục vụ quản lý thuế dựa trên dữ liệu. Cơ chế này giúp xác định mức độ ưu tiên, phân bổ nguồn lực phù hợp và áp dụng biện pháp quản lý tương ứng với từng nhóm, qua đó nâng cao hiệu quả giám sát và hỗ trợ người nộp thuế…
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, việc Phong Nha- Kẻ Bàng trở thành Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới có ý nghĩa quan trọng vượt phạm vi bảo tồn thiên nhiên. Danh hiệu này tạo thêm nền tảng để Quảng Trị phát triển mô hình kinh tế dựa trên vốn tự nhiên, trong đó các giá trị về môi trường, kinh tế và xã hội được kết hợp hài hòa...