Tại hội nghị "Kết nối doanh nghiệp sản xuất, phân phối và logistics Việt Nam - Campuchia” mới đây, bà Phan Thị Thắng, Thứ trưởng Bộ Công Thương đánh giá cao mối quan hệ thương mại Việt Nam – Campuchia; đồng thời cho rằng Campuchia là quốc gia láng giềng, có vị trí chiến lược trong thương mại của Việt Nam, giữ vai trò cửa ngõ giao thông và trung chuyển hàng hóa trong tiểu vùng sông Mê Kông. Tuyến biên giới đất liền dài khoảng 1.137 km, đi qua 8 tỉnh của Việt Nam và 9 tỉnh của Campuchia, với 50 cửa khẩu các loại (11 quốc tế, 11 chính, 28 phụ và 11 lối mở). Hệ thống cửa khẩu phân bố đều trên toàn tuyến, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa và giao lưu giữa hai nước.
Trong thời gian qua, hai nước đã ký các thỏa thuận hợp tác song phương, tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi cho thương mại biên giới giữa hai nước, gồm: Bản ghi nhớ năm 2019 về phát triển và kết nối hạ tầng thương mại biên giới Việt Nam - Campuchia, Hiệp định Thương mại biên giới năm 2024, Bản Thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương giai đoạn 2025 - 2026.
Việc triển khai các thỏa thuận này đã góp phần thúc đẩy phát triển hạ tầng cửa khẩu, chợ biên giới, kho hàng hóa và dịch vụ logistics tại các tỉnh biên giới, rút ngắn thời gian thông quan, nâng cao năng lực kết nối chuỗi cung ứng.
Đồng thời, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hợp tác với đối tác Campuchia, quảng bá sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, qua đó góp phần phát triển kinh tế địa phương và củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước.
Năm 2024, kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng hơn 10 tỷ USD. Từ đầu năm 2025 đến nay, kim ngạch thương mại 2 chiều cũng đang vượt trội. Trong đó, tỷ trọng hàng công nghiệp - năng lượng chiếm ưu thế trong xuất khẩu của Việt Nam, hàng nông sản chiếm tỷ trọng lớn trong nhập khẩu từ Campuchia.
Để góp phần đưa kim ngạch thương mại song phương lên 20 tỷ USD vào năm 2030, Thứ trưởng Bộ Công Thương đề nghị hai bên cần phải hành động mạnh mẽ hơn nữa, tìm ra giải pháp cho các vấn đề còn tồn tại và thúc đẩy một cách bền vững các lĩnh vực trọng tâm.
Cụ thể, gắn kết phát triển hạ tầng thương mại biên giới Việt Nam - Campuchia với đầu tư đồng bộ hạ tầng cửa khẩu, logistics, kho hàng hóa, chợ biên giới; liên kết liên ngành, liên vùng, qua biên giới: quy hoạch giao thông - logistics - cửa khẩu - chợ biên giới giữa các tỉnh biên giới Việt Nam giáp Campuchia.
Bên cạnh đó, cần có các giải pháp tạo thuận lợi để phát triển thương mại song phương Việt Nam - Campuchia (xúc tiến thương mại, thông quan hàng hóa, hỗ trợ doanh nghiệp); đẩy mạnh ứng dụng mô hình cửa khẩu thông minh nhằm thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản sang thị trường Campuchia.
Đặc biệt, Thứ trưởng Thắng nhấn mạnh tiềm năng kết nối doanh nghiệp và thương mại song phương giữa Việt Nam và Campuchia cần được chú trọng nhiều hơn.
Nhấn mạnh tại hội nghị, ông Tith Rithipol, Phó Quốc vụ Khanh Bộ Thương mại Campuchia, cho rằng Việt Nam và Campuchia không chỉ là láng giềng gần gũi mà còn là đối tác tin cậy với truyền thống hữu nghị, đoàn kết và hợp tác lâu dài.
Trong nhiều năm qua, quan hệ kinh tế và thương mại song phương giữa hai nước ngày càng được tăng cường và được hỗ trợ bởi ý chí chính trị mạnh mẽ, sự hợp tác thực chất trên thực tế. Việt Nam là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia.
Tuy nhiên, ông Tith Rithipol thẳng thắn đánh giá dù đã đạt được nhiều tiến triển đáng khích lệ, nhưng hai bên cũng cần nhìn nhận những thách thức tiếp tục kìm hãm tiềm năng đầy đủ của thương mại song phương. Bao gồm: Chi phí logistics, hạn chế trong cơ sở hạ tầng giao thông và cửa khẩu biên giới, sự khác biệt về thủ tục pháp lý, cũng như năng lực hạn chế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) trong việc tham gia vào chuỗi giá trị xuyên biên giới.
Ông Tith Rithipol đặc biệt nhấn mạnh đến một số lĩnh vực mà Campuchia và Việt Nam có thể xem xét hợp tác chặt chẽ hơn để tiến xa hơn nữa.
Thứ nhất, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thương mại biên giới. Với chiều dài đường biên giới và nhiều cửa khẩu quốc tế, hai nước có tiềm năng to lớn để mở rộng thương mại biên giới. Việc hiện đại hóa các dịch vụ hỗ trợ sẽ giúp giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả.
Thứ hai, tăng cường kết nối logistics và vận tải.
"Logistics hiệu quả là xương sống của thương mại và hội nhập kinh tế. Do đó, cần phối hợp thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng giao thông xuyên biên giới, bao gồm đường bộ, cầu, đường sắt. Đồng thời, khuyến khích việc thành lập các trung tâm logistics và cảng cạn gần các cửa khẩu chính", ôngTith Rithipol đề nghị.
Thứ ba, làm sâu sắc hơn hợp tác trong các khuôn khổ khu vực và đa phương. Việt Nam và Campuchia là thành viên tích cực của ASEAN và các khuôn khổ khu vực khác như RCEP. Việc tăng cường kết nối song phương sẽ trực tiếp đóng góp vào khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng khu vực.
“Campuchia cam kết và sãn sàng trong việc hợp tác chặt chẽ với Việt Nam nhằm tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ kinh tế và thương mại, thúc đẩy kết nối trong sản xuất, phân phối và logistics. Điều này không chỉ để gia tăng thương mại song phương, mà còn đóng góp vào tầm nhìn rộng lớn hơn về hội nhập ASEAN, kết nối khu vực và thịnh vượng chung cho nhân dân hai nước”, ông Tith Rithipol nhấn mạnh.
Phó Quốc vụ Khanh Bộ Thương mại Campuchia bày tỏ trân trọng, mời gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư Việt Nam, bao gồm cả những doanh nghiệp đã hoạt động tại Việt Nam cân nhắc đầu tư và kinh doanh tại Campuchia trong mọi lĩnh vực, nhất là các ngành có tiềm năng và giá trị gia tăng cao như: ô tô, nông nghiệp hiện đại, chế biến thực phẩm, điện tử, công nghệ số, công nghệ và dịch vụ tài chính, nghiên cứu và phát triển, du lịch, giáo dục, vận tải và logistics, công nghiệp sáng tạo, và các ngành sản xuất khác…




Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...