Cân nhắc huy động 180.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, thận trọng rủi lo lạm phát năm 2022
Quang Trung
12/11/2021, 09:45
Sáng 12/11, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng và Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc đã làm rõ thêm những vấn đề liên quan tới các chính sách tiền tệ và tài khóa trong chiến lược tổng thể nhằm phục hồi và phát triển kinh tế thời gian tới...
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn sáng 12/11 - Ảnh: VGP
Đánh giá về tình hình điều hành chính sách thời gian qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, trước những tác động nghiêm trọng của đại dịch tới hoạt động sản xuất kinh doanh, Ngân hàng Nhà nước đã tích cực chỉ đạo quyết liệt.
RỦI RO LẠM PHÁT LỚN NĂM 2022
Trong công tác điều hành lãi suất, từ đầu năm 2020, Ngân hàng Nhà nước đã ba lần giảm lãi suất với tổng mức giảm từ 1,5-2% - đây là mức giảm sâu so với các nước trong khu vực. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo và kêu gọi các tổ chức tín dụng giảm lãi suất, từ đó giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và người dân. Mặt bằng lãi suất đã giảm khoảng 1,66% một năm so với trước dịch.
Theo Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, chính sách tiền tệ có hai nhiệm vụ chính là điều hành để góp phần kiểm soát lạm phát, vĩ mô và đảm bảo an toàn, khả năng chi trả của hệ thống. Bà khẳng định, cùng với việc đảm bảo các cân đối lớn của kinh tế vĩ mô, đây là hai căn cứ để Ngân hàng Nhà nước xem xét các công cụ chính sách thời gian tới.
“Về dư địa chính sách năm 2021 chỉ tiêu đạt lạm phát dưới 4% có thể đạt được nhưng năm 2022, rủi ro lạm phát có áp lực rất lớn. Khi nền kinh tế thế giới đã và dần phục hồi, giá cả hàng hóa đang có xu hướng gia tăng, một số mặt hàng như xăng dầu đã tăng rất cao, nhiều nước phát triển đã ghi nhận mức lạm phát cao nhất lịch sử. Với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, áp lực rủi ro lạm phát nhập khẩu rất lớn”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cảnh báo.
Chia sẻ thêm kinh nghiệm thế giới, Thống đốc cho biết, các Ngân hàng trung ương trên thế giới hiện đã giảm dần nới lỏng chính sách với 65 lượt tăng lãi suất. Điều này tạo áp lực điều hành lớn cho Việt Nam thời gian tới.
Về nhiệm vụ đảm bảo an toàn và khả năng chi trả của hệ thống, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết hiện tại, nợ xấu của các tổ chức tín dụng cũng đang gia tăng. Các ngân hàng hiện đang giảm lãi suất bằng nguồn lực của mình chứ không phải từ ngân sách.
“Khi nợ xấu gia tăng, các tổ chức cũng phải dùng nguồn lực để xử lý. Nguồn lực của tổ chức tín dụng suy giảm sẽ ảnh hưởng tới hoạt động, tính an toàn của hệ thống", Thống đốc phân tích.
Nhắc lại bài học từ cuộc khủng hoảng 2008-2009 và lưu ý cần thận trọng với rủi ro lạm phát, bà cho biết Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo để cố gắng tiết giảm chi phí hoạt động để kiềm chế lãi suất nhưng phải đảm bảo mức độ an toàn của từng tổ chức tín dụng và hệ thống. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan để tính toán các gói hỗ trợ lãi suất hợp lý, trên cơ sở ổn định vĩ mô, phòng ngừa rủi ro lạm phát.
CÂN NHẮC HUY ĐỘNG 180.000 TỶ ĐỒNG TRONG DÂN
Về chính sách tài khóa, tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn sáng 12/11, Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc cũng đã giải trình thêm trước Quốc hội. Ông nhấn mạnh tiền từ các gói hỗ trợ phải đổ các dự án đầu tư công để dẫn dắt tăng trưởng, góp phần tăng thu ngân sách và bội chi các năm sau phải giảm dần.
Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc - Ảnh: Quochoi.vn
Bộ trưởng Tài chính ủng hộ các gói kích cầu nhưng nhấn mạnh các gói này phải phát huy hiệu quả để tăng thu ngân sách mà không tăng bội chi ngân sách.
Về nguồn lực cho chương trình phục hồi kinh tế, ông Phớc cho biết đã tính tới các biện pháp, trong đó có việc phát hành trái phiếu Chính phủ để huy động tiền trong dân với số tiền khoảng 180.000 tỷ trong 2 năm.
Dù vậy, ông cũng lưu ý về khả năng hấp thụ nguồn tiền của nền kinh tế và cho rằng phải tập trung vào các dự án đầu tư công, công trình trọng điểm, những lĩnh vực kinh tế tạo đột phá để tăng trưởng.
Về chi ngân sách, Bộ trưởng Tài chính cho biết trước mắt cần tiết kiệm chi thường xuyên để chuyển sang chi đầu tư phát triển.
Bộ trưởng cũng đề nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục áp dụng giãn, hoãn thuế, phí, giảm thuế đối với giá xăng dầu lĩnh vực hàng không; thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế hộ sản xuất kinh doanh. Đồng thời, giãn khoản thuế cho hộ, doanh nghiệp chậm nộp khi làm ăn thua lỗ.
ĐÁNH GIÁ KỸ KHẢ NĂNG HẤP THỤ VỐN ĐẦU TƯ CÔNG
Tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn chiều 11/11, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cũng đề cập tới những tồn tại, hạn chế và rút ra kinh nghiệm từ gói kích thích kinh tế năm 2008-2009. Theo ông, Gói kích thích này khi đó chủ yếu tập trung vào nguồn cung mà không hỗ trợ đầu ra cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hỗ trợ lãi suất lớn nhưng thiếu đồng bộ với các chính sách về tiền tệ và tài khóa khác, làm giảm hiệu quả dẫn tới trục lợi chính sách.
Về ảnh hưởng vĩ mô, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết gói kích thích này khiến lạm phát tăng cao, năm 2010 và 2011 lần lượt là 9,2% và 18,6%. Đầu tư dàn trải gây nợ đọng lãng phí, đình hoãn, nhiều dự án dừng vào năm 2011 đến nay chưa giải quyết được hậu quả. Ông cũng cho biết một số chương trình hỗ trợ lãi suất đến nay chưa quyết toán được, gây hệ lụy lớn.
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đánh giá gói kích thích này khi đó được triển khai thiếu đồng bộ với các chính sách tài khóa và tiền tệ, công tác quản lý giám sát thiếu chặt chẽ, thực hiện trên nền vĩ mô thiếu ổn định, chính sách hỗ trợ chưa sát thực tiễn, điều kiện vay vốn cho doanh nghiệp chưa công khai, minh bạch.
Trong cả phiên chất vấn và trả lời chất vấn về lĩnh vực kế hoạch-đầu tư chiều 11/11 và sáng 12/11, nhiều đại biểu đặt câu hỏi xung quanh vấn đề nới trần nợ công và bội chi ngân sách nhằm có nguồn lực cho các gói hỗ trợ, kích thích phục hồi, phát triển nền kinh tế sau thời gian bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19.
Toàn cảnh phiên chất vấn và trả lời chất vấn về lĩnh vực kế hoạch - đầu tư - Ảnh: Quochoi..vn
Đại biểu Nguyễn Văn Hiển - Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp, đoàn đại biểu Quốc hội Lâm Đồng, dẫn ý kiến của nhiều chuyên gia, cho rằng để hỗ trợ an sinh xã hội và phục hồi nền kinh tế sau đại dịch thì cần một gói hỗ trợ đủ lớn về tài khóa, đặc biệt là hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt tương đương với khoảng 3% đến 4% GDP.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, nếu làm như vậy sẽ vượt chỉ tiêu bội chi ngân sách nhà nước, tăng nợ công, tăng nợ Chính phủ. Còn nếu không có các giải pháp hỗ trợ đủ lớn thì nền kinh tế sẽ chậm được phục hồi, lỗi nhịp so với sự phát triển của các nước và kèm theo là nhiều hệ lụy tiêu cực.
Trả lời băn khoăn của đại biểu, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết ông ủng hộ quan điểm nới bội chi ngân sách và nợ công. Ông cho rằng nếu không nới bội chi và nới nợ công thì khó có điều kiện tăng trưởng và khó đạt mục tiêu 5 năm, chiến lược 10 năm cũng như khát vọng là nước phát triển vào năm 2045. Bên cạnh đó, đất nước cũng mất cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, dân số vàng, các hiệp định thương mại tự do, những chuyển dịch mới.
Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
“Khi làm vậy, sẽ vừa phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, làm cho quy mô nền kinh tế lớn hơn, khi đó tự khắc nợ công sẽ giảm xuống dù không thể xuống như cũ. Còn nếu không nới, không có đầu tư, không có phát triển, sẽ là vòng luẩn quẩn là bội chi, nợ công lúc nào cũng ở mức cao, trong khi chúng ta bỏ hết cơ hội phát triển", Bộ trưởng Dũng nêu quan điểm.
Đại biểu Lê Minh Nam (Hậu Giang) cho rằng cần đánh giá kỹ lưỡng và thận trọng nhu cầu, khả năng hấp thụ vốn đầu tư công của nền kinh tế cùng các yếu tố liên quan trước khi ra quyết định cho các chương trình kích thích và phục hồi kinh tế. Theo ông, phải hết sức thận trọng nếu phải ưu tiên kiểm soát nợ công để đảm bảo an ninh tài chính và các cân đối vĩ mô.
“Trước khi tính đến kịch bản tăng nợ công và bội chi, nên tính đến sử dụng các gói kích cầu, chính sách tài khóa, tiền tệ hợp lý để thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách, giảm bội chi và tăng cường quản trị nguồn lực hiện có. Đặc biệt, cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công”, đại biểu đoàn Hậu Giang nêu quan điểm.
Đánh giá cao ý kiến của đại biểu, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư đồng tình với quan điểm phải tính toán thận trọng khi xây dựng chương trình phục hồi kinh tế, trong đó lưu ý về tăng bội chi và nợ công cũng như khả năng hấp thụ của nền kinh tế để không phá vỡ an toàn tài chính chung.
“Đây là vấn đề quan trọng để đảm bảo kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn nên phải tính toán thận trọng đảm bảo phục hồi, phát triển nền kinh tế và cân nhắc vấn đề an toàn tài chính”, Bộ trưởng Dũng nhấn mạnh.
Bốn bài học kinh nghiệm từ gói kích thích kinh tế 2008-2009 "hơn 10 năm chưa quyết toán xong"
21:23, 11/11/2021
Tiền chưa tiêu hết sao đề xuất vay mới, nâng trần nợ công
19:00, 11/11/2021
Thủ tướng: Khẩn trương xây dựng chiến lược thích ứng an toàn với dịch, kích thích nền kinh tế
Thủ tướng đồng ý chủ trương ứng ngân sách hỗ trợ Quỹ bình ổn giá xăng dầu
Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ mục tiêu cao nhất là không để thiếu năng lượng, xăng dầu trong bất cứ trường hợp nào; đồng thời, đồng ý về chủ trương với đề xuất của các cơ quan về ứng ngân sách nhà nước cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu...
Luật Thủ đô (sửa đổi): Khoa học – công nghệ là trụ cột, thực thi là then chốt
Trao đổi với VnEconomy, TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho rằng Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đã định vị đúng vai trò khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, song yếu tố quyết định vẫn là cơ chế thực thi minh bạch, có kiểm soát và tạo niềm tin
Bài 1: Từ tăng trưởng theo quán tính đến tăng trưởng theo kiến trúc
Tăng trưởng theo quán tính là mô hình dựa trên mở rộng đầu vào: tăng lao động, tăng vốn, mở rộng tín dụng, thu hút FDI, khai thác lợi thế chi phí thấp. Mô hình này mang tính “gia tốc theo mở rộng quy mô” hơn là nâng cấp theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng...
Tăng cường kiểm soát buôn lậu xăng dầu trong bối cảnh thị trường biến động
Văn phòng Chính phủ vừa có Công văn số 2389/VPCP-V.I ngày 19/3/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu...
Định hình Thủ đô trong kỷ nguyên mới: Tầm nhìn dài hạn, thể chế vượt trội
Ngày 17/3, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết xác lập hệ quan điểm phát triển, mục tiêu dài hạn và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm đưa Thủ đô trở thành trung tâm dẫn dắt phát triển quốc gia, vươn tầm khu vực và toàn cầu.
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: