Người trị thủy cần có cái nhìn tổng quát và dài hạn để tìm cách nắn dòng, chứ không đợi đến khi có lũ mới lo chặn dòng.
>>
Cho vay đầu tư chứng khoán: Phía sau hạn mức 3%
Ai cũng biết tài chính ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm, mọi động thái tác động đến nó đều ảnh hưởng đến cả nền kinh tế. Do vậy, các biện pháp can thiệp cần phải xem xét hết sức cẩn trọng, nếu không có thể xảy ra những hậu quả khôn lường.
Về nguyên tắc, điều hành dòng chảy tiền tệ giống như trị thủy. Người trị thủy cần có cái nhìn tổng quát và dài hạn để lường đoán những tình huống có thể xảy ra rồi tìm cách nắn dòng chứ không đợi đến khi có lũ mới lo chặn dòng. Nếu không, tức nước vỡ bờ rất có thế xảy ra.
Có lẽ chỉ thị siết chặt quản lý cho vay kinh doanh chứng khoán vừa được Ngân hàng Nhà nước ban hành là một cú “chặn dòng” gây nhiều phản ứng.
Lý luận của việc ban hành chỉ thị là xác đáng. Thị trường chứng khoán quá nóng, rủi ro lớn, nếu các ngân hàng cho vay quá nhiều, nguy cơ xảy ra khủng hoảng sẽ cao, cần phải hạn chế. Tuy nhiên, nếu nhìn lùi lại một chút sẽ thấy nhiều điều bất cập.
Thứ nhất, chỉ thị này cho thấy sự bất cập trong việc lường đoán và ban hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước. Dường như việc tập trung đối phó với cái trước mắt, phần ngọn của vấn đề được quan tâm nhiều hơn là giải quyết vấn đề dựa vào cái gốc hay bản chất của nó.
Ở tình huống này, đáng ra những yếu tố liên quan đến thị trường chứng khoán đã phải được đặt ra khi ban hành những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng vào năm 2005, thời điểm Basel II – chuẩn mực quốc tế mới về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng đã có và lộ trình hội nhập của Việt Nam đã rõ, chứ không phải đến giờ Ngân hàng Nhà nước mới “tiếp tục nghiên cứu sửa đổi các quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng theo hướng nâng mức hệ số rủi ro, trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán.”
Thứ hai, nhìn vào thực tế hoạt động cho vay kinh doanh chứng khoán đang diễn ra thì có vẻ như Ngân hàng Nhà nước đã quá lo xa, lo thay hay can thiệp quá sâu vào hoạt động của các ngân hàng thương mại. Người được hay mất chính là cổ đông của các ngân hàng. Họ chẳng dại gì cho vay theo kiểu “ném tiền qua cửa sổ” mà không hề quan tâm đến rủi ro. Không nhiều thì ít, hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng này cũng hoạt động hiệu quả và khống chế được những rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến hầu bao của họ.
Thứ ba, với những can thiệp hành chính bất ngờ như vậy không làm cho các nhà đầu tư đánh giá thấp môi trường kinh doanh của Việt Nam do tính khó lường đón của luật lệ mới là chuyện lạ.
Cuối cùng, một vấn đề có tính kỹ thuật là việc dùng khái niệm chứng khoán có vẻ không ổn lắm vì nếu 3% dư nợ là trái phiếu chính phủ thì chẳng có vấn đề gì, nhưng nếu là cổ phiếu của một công ty không tên tuổi lại là chuyện khác. Phải chăng phạm vi điều chỉnh mong muốn là cổ phiếu và các loại chứng khoán tựa cổ phiếu, nhưng sợ liệt kê không hết nên văn bản cứ dùng khái niệm chung cho chắc, đồng thời tạm đưa ra con số 3% theo kiểu “bốc thuốc” rồi tính tiếp?
Tóm lại, việc sử dụng các công cụ quản lý ở những thời điểm, tình huống cụ thể là cần thiết. Tuy nhiên, để tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định cần dự tính trước những gì có thể xảy ra để có giải pháp hợp lý thay vì phải dùng các giải pháp chữa cháy can thiệp quá sâu vào các dòng chảy của thị trường.