“Điểm nghẽn lớn nhất của các quỹ bảo lãnh tín dụng không nằm ở việc thiếu nguồn lực tài chính, mà là thiếu một cơ chế vận hành hiệu quả và phù hợp với sứ mệnh.”
TS Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký VinaSMEs.
Phát biểu tại tọa đàm “Khi thị trường đổi chiều: Hành trình thích ứng của SMEs” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho rằng thực tế đang tồn tại sự chênh lệch giữa vai trò của SMEs và mức độ tiếp cận nguồn lực tài chính. Theo ông, phần lớn doanh nghiệp trong khu vực này có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế, nên khó mở rộng hoạt động.
TS Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VinaSMEs), cũng cho rằng sức khỏe của khu vực này đang có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa vững chắc. “Mức độ tiếp cận và hấp thụ các nguồn lực hỗ trợ hiện vẫn chưa tương xứng với vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa”, ông Nam nói.
GS.TS Hoàng Văn Cường chỉ ra một số điểm nghẽn chính trong tiếp cận tín dụng của SMEs, trong đó có yêu cầu về tài sản bảo đảm: “Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không sở hữu tài sản có giá trị lớn, nên gặp bất lợi khi đáp ứng điều kiện thế chấp trong mô hình cho vay truyền thống”.
Cùng vấn đề này, TS Tô Hoài Nam cho rằng tài sản của SMEs không phải không có, nhưng thường tồn tại dưới dạng nhà xưởng thuê, máy móc, hàng hóa, đơn hàng hoặc dòng tiền. Theo ông Nam, cách nhìn nhận và định giá các loại tài sản này chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.
Một điểm nghẽn khác là minh bạch thông tin. GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng nhiều SMEs chưa có hệ thống kế toán, báo cáo tài chính đầy đủ, khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh và rủi ro.
TS Tô Hoài Nam cũng cho biết phần lớn SMEs vận hành theo mô hình gia đình, hệ thống kế toán chủ yếu phục vụ nghĩa vụ thuế, chưa đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại. Điều này tạo khoảng cách giữa tiêu chuẩn dữ liệu mà ngân hàng yêu cầu và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp.
Liên quan đến dòng tiền, GS.TS Hoàng Văn Cường nhận định việc thiếu các hợp đồng đầu vào – đầu ra rõ ràng, dòng tiền thiếu ổn định khiến ngân hàng khó có cơ sở thẩm định khi cho vay không có tài sản bảo đảm.
Ở góc độ đánh giá rủi ro, TS Tô Hoài Nam cho rằng việc dựa nhiều vào dữ liệu lịch sử và báo cáo tài chính có thể chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm linh hoạt, vòng quay vốn nhanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo ông, cách tiếp cận này có thể dẫn đến đánh giá chưa toàn diện về hiệu quả và tính khả thi của phương án kinh doanh.
Ngoài ra, GS.TS Hoàng Văn Cường cho biết đặc điểm vận hành của SMEs cũng khiến mức độ rủi ro được đánh giá cao hơn, trong khi ngân hàng phải đảm bảo an toàn vốn và tuân thủ các chuẩn mực quản trị rủi ro, nên thường thận trọng khi cho vay.
“Điểm nghẽn lớn nhất của các quỹ bảo lãnh tín dụng không nằm ở việc thiếu nguồn lực tài chính, mà là thiếu một cơ chế vận hành hiệu quả và phù hợp với sứ mệnh.”
TS Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký VinaSMEs.
TS Tô Hoài Nam bổ sung rằng yếu tố tâm lý trong hệ thống ngân hàng cũng ảnh hưởng đến quyết định cấp tín dụng. Theo ông, nhiều tổ chức tín dụng có xu hướng thận trọng với doanh nghiệp nhỏ và vừa do quan niệm rủi ro cao, dù thực tế cần được nhìn nhận trên cơ sở dữ liệu đầy đủ hơn.
Trong bối cảnh đó, GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng xu hướng chuyển dịch sang tín dụng dựa trên dữ liệu và dòng tiền là hướng đi dài hạn. Với sự hỗ trợ của công nghệ tài chính, ngân hàng có thể khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn để đánh giá doanh nghiệp một cách toàn diện hơn.
Ở góc nhìn chính sách, TS Tô Hoài Nam cũng cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận trong đánh giá tín dụng, chuyển từ trọng tâm tài sản thế chấp sang dòng tiền và dữ liệu hoạt động kinh doanh. Theo ông, đây là hướng phù hợp hơn với đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, GS.TS Hoàng Văn Cường đề cập vai trò của quỹ bảo lãnh tín dụng như một công cụ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, thông qua việc chia sẻ rủi ro với ngân hàng.
TS Tô Hoài Nam cho biết hiệu quả hoạt động của các quỹ này hiện còn hạn chế do nguồn lực chưa đủ mạnh, cơ chế phối hợp với ngân hàng chưa thống nhất và thủ tục tiếp cận còn phức tạp. Ông cho rằng cần hoàn thiện cơ chế vận hành để công cụ này phát huy hiệu quả trong thực tế.
Tại tọa đàm, các chuyên gia thống nhất rằng việc cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa cần đi kèm với đổi mới phương thức cấp tín dụng, thúc đẩy chuyển đổi số và hoàn thiện hệ sinh thái hỗ trợ, nhằm phù hợp hơn với đặc thù của khu vực doanh nghiệp này.
Đồng hành cùng chương trình tọa đàm là Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), một trong những ngân hàng đang đẩy mạnh các giải pháp tài chính linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực thích ứng, quản trị dòng tiền và từng bước củng cố nền tảng phát triển bền vững.
Trong bối cảnh khách hàng ngày càng quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn, những giải pháp như Flexi Savings - sản phẩm của ngân hàng Phương Đông (OCB) được xem là lựa chọn tối ưu bởi vừa giúp gia tăng lợi ích của dòng tiền nhàn rỗi, vừa duy trì sự chủ động trước các cơ hội và kế hoạch trong tương lai…
Trong các thương vụ huy động vốn, IPO hay mở rộng chuỗi cung ứng quốc tế, thông tin phát triển bền vững đang dần trở thành một phần của đối thoại tài chính. Với sự ra đời của IFRS S1 và IFRS S2, doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu công bố nhiều thông tin hơn, mà còn phải chứng minh các rủi ro và cơ hội về phát triển bền vững có thể tác động như thế nào đến triển vọng kinh doanh và khả năng tiếp cận vốn…
Trong phiên sáng 22/7, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới sụt 18,5 triệu đồng/lượng từ mức đỉnh được thiết lập vào phiên 20/3 là 32,1 triệu đồng/lượng, tương đương với mức giảm 57,6% đối với vàng miếng SJC...
Trong 6 tháng đầu năm 2026, lượng kiều hối chuyển về TP. Hồ Chí Minh đạt hơn 4 tỷ USD. Trong đó, riêng châu Á và châu Mỹ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng góp hơn 81% tổng lượng kiều hối…
Ngày 22/7/2026, Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhân thọ Kỹ Thương (Techcom Life) chính thức công bố việc thay đổi cơ cấu cổ đông sau khi được Bộ Tài chính chấp thuận theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.