
Giữ tình hình tài chính lành mạnh, thắt chặt cho vay nhưng vẫn cung ứng đủ vốn cho lĩnh vực ưu tiên
.
Đó là hướng đi chương trình hành động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) trong việc chung tay cùng Chính phủ trong kiềm chế lạm phát.
Chương trình này có một số mặt đáng chú ý sau:
Thứ nhất, kiểm soát tăng trưởng tín dụng
. BIDV duy trì tốc độ tăng ở mức 25,4%, thấp hơn 5,6% so với “barie” 30% do Ngân hàng Nhà nước đưa ra.
Theo đó, nợ cho vay trung và dài hạn giảm từ 41,1% của 2006 xuống còn 37,9%, tăng tỷ trọng cho vay ngoài quốc doanh từ mức 58% lên 65%; tăng tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo từ 70% lên 73%.
Đặc biệt, đối với dư nợ bất động sản, BIDV duy trì ở mức 6,5%/tổng dư nợ và đây cũng là lĩnh vực không được BIDV khuyến khích giải ngân trong thời điểm hiện nay.
Thứ hai, phân loại rõ nhóm khách hàng được và không được hưởng ưu tiên
. Cụ thể, giảm tỷ trọng cho vay xây lắp từ trên 22% xuống 17%; tỷ trọng tín dụng bán lẻ tăng từ mức 9,2% lên 14,4% nhưng tập trung chủ yếu cho vay khu vực sản xuất, dịch vụ và hạn chế cho vay nhu cầu tiêu dùng.
Đặc biệt, đối với khách hàng nhóm ưu tiên, BIDV cũng tăng tỷ trọng cho vay đối với các ngành kinh tế mũi nhọn như điện, than, xi măng, dầu khí, bưu chính viễn thông và xuất nhập khẩu.
Cụ thể, doanh số cho vay tài trợ xuất nhập khẩu đạt 11.300 tỷ đồng, dư nợ cho vay xuất nhập khẩu đạt 5.000 tỷ đồng, tăng 72,% so với 2006. Trong đó, những mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thị trường ổn định như thủy sản, gỗ, gạo, điều... đều được hưởng chính sách ưu tiên.
Theo một cán bộ mảng nghiệp vụ xuất khẩu của BIDV, việc tăng trưởng doanh số cho vay xuất nhập khẩu vào thời điểm này là cần thiết, nhằm cung cấp đủ vốn cho các doanh nghiệp xuất xuất khẩu, góp phần cân đối cung cầu hàng hóa, giảm áp lực tăng giá.
Đối với nhập khẩu, BIDV chỉ ưu tiên cho vay nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, xăng dầu và không cho vay nhập khẩu hàng tiêu dùng, hàng xa xỉ như ôtô, điện tử...
Thứ ba, đối với vấn đề tạm dừng giải chấp cầm cố và repo chứng khoán.
Ông Trần Bắc Hà, Tổng giám đốc BIDV cho biết: “Dư nợ cầm cố và repo chứng khoán của BIDV hiện chiếm 1,35%/tổng dư nợ”.
Theo ông Hà, BIDV sẵn sàng tạm ngưng giải chấp để hỗ trợ thị trường chứng khoán, nhưng hiện tại, để tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn đầu vào, Ngân hàng Nhà nước cần có lộ trình để BIDV chuyển số tiền gửi của Chính phủ về Ngân hàng Nhà nước, không nên chuyển đột ngột vì có thể làm tổn thương đến nguồn vốn không chỉ của BIDV mà của nhiều ngân hàng khác.
Trên thực tế, trong tổng số hơn 52 nghìn tỷ đồng tiền gửi của Chính phủ tại các ngân hàng thương mại quốc doanh, BIDV giữ khoảng 8%, tương đương 4,16 nghìn tỷ đồng. Vì thế, nếu rút nguồn tiền này ra khỏi lưu thông, cần có lộ trình để các ngân hàng thương mại chủ động lên kế hoạch cân đối nguồn vốn.
Cũng liên quan đến việc thực hiện các nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng bền vững, ông Hà cho rằng, Chính phủ cần kiên định ưu tiên mục tiêu chống lạm phát và phải kết hợp nhiều giải pháp đồng bộ. Trong đó, biện pháp thắt chặt tiền tệ và chính sách tài khóa chỉ là giải pháp cấp bách, còn chính sách đẩy mạnh sản xuất, hỗ trợ xuất khẩu vẫn là giải pháp cơ bản và lâu dài.
* Theo bà Phan Thị Chinh, Phó tổng giám đốc BIDV, BIDV là một ngân hàng quốc doanh có quy mô vốn chủ sở hữu khoảng 13 nghìn tỷ đồng, chiếm thị phần lớn trên thị trường ngân hàng. Bởi vậy, tình hình tài chính của BIDV có một ảnh hưởng rõ rệt đến sự ổn định của thị trường tài chính tiền tệ.
So với 2006 thì năm 2007, tổng tài sản của BIDV đạt 204.992 tỷ đồng, tăng 26,7% so với 2006; huy động vốn tăng 22,9%, tổng dư nợ tín dụng tăng 25,4% (thấp hơn yêu cầu của Chính phủ là 30%) và thu dịch vụ ròng tăng 59,3%.
Đặc biệt, kết thúc năm 2007, BIDV đạt lợi nhuận trước thuế 2.112 tỷ đồng, tăng 57,8%; nộp ngân sách 600 tỷ đồng, gấp 1,6 lần so với 2006. Một số chỉ tiêu khác như ROE đạt 13,5%, ROA đạt 0,88% và hệ số an toàn vốn (CAR) đạt 11%, khá cao so với yêu cầu 8% của Ngân hàng Nhà nước.




Từ ngày 1/11/2026, báo cáo tài chính năm trong thông tin tín dụng của doanh nghiệp vay vốn phải là báo cáo đã nộp cho cơ quan thuế hoặc đã được kiểm toán, theo quy định mới tại Thông tư 46/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước…
Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng đã giảm 4 tháng liên tiếp và đang lùi về sát đáy một năm. Dòng vốn, nguồn cung ngoại tệ và mặt bằng lãi suất VND đang tạo lực đỡ cho đồng nội tệ. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu của USD/VND có thể không còn nhiều khi nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu vẫn lớn, trong khi tín hiệu điều hành cho thấy tỷ giá có thể tăng nhẹ trong những tháng cuối năm...
Các thành viên trên thị trường liên ngân hàng vẫn đặt kỳ vọng cao vào tăng trưởng kinh tế và khả năng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhưng thận trọng hơn với triển vọng chứng khoán và bất động sản. Sự phân hóa này xuất hiện ngay cả khi thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, cho thấy dòng tiền dồi dào hơn chưa đồng nghĩa với điều kiện vốn thuận lợi hơn, nhất là khi chi phí huy động vẫn cao và những bất định bên ngoài còn lớn..
Dòng tiền nhàn rỗi dưới 6 tháng đang được nhiều ngân hàng nhắm tới bằng chứng chỉ tiền gửi có mức sinh lời quanh 7%/năm, thậm chí trên 8%. Khảo sát tại 6 ngân hàng trên địa bàn TP. Hà Nội cho thấy, đằng sau các mức lợi suất hấp dẫn được quảng bá là những cấu trúc phức tạp: thời gian nắm giữ vài tháng chưa chắc là kỳ hạn của chứng chỉ tiền gửi, còn “tất toán” đôi khi thực chất gắn với một giao dịch chuyển nhượng..
Đến cuối tháng 7/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và TP. Đồng Nai đã đạt mức 6,329 triệu tỷ đồng, chiếm 31,2% tổng dư nợ tín dụng cả nước và tăng 9% so với cuối năm trước…
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục khẳng định sự coi trọng đặc biệt của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp, cũng là cơ hội để kết nối những lĩnh vực thế mạnh của Pháp về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và các ngành công nghệ chiến lược với nhu cầu phát triển mới của Việt Nam.