Xây dựng nhà máy thông minh (smart factory) đang là đích đến của mọi nền sản xuất hiện đại. Đứng trước áp lực cạnh tranh khốc liệt từ thị trường toàn cầu và những yêu cầu ngày càng khắt khe về tối ưu hóa chi phí, phát thải bằng không (Net Zero), các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình thâm dụng lao động truyền thống.
Tuy nhiên, hành trình từ một nhà máy sản xuất thông thường phát triển lên nhà máy thông minh với một hệ sinh thái hoàn thiện không hề dễ dàng.
Trong đó, một trong những sai lầm phổ biến của các doanh nghiệp sản xuất khi bước vào chuyển đổi số là cho rằng chỉ cần rót tiền mua một hệ thống phần mềm đắt đỏ, nhà máy sẽ tự động “thông minh” lên. Thực tế chứng minh lại cho thấy sự vội vàng áp dụng công nghệ thiếu định hướng thường dẫn đến lãng phí nguồn lực và gây xáo trộn dây chuyền hiện tại.
Chia sẻ tại Tọa đàm Định hướng ngành nhà máy thông minh, ngũ kim và công nghệ phụ trợ chiều ngày 9/4, ông Cao Văn Lanh, Phó Giám đốc Công ty TNHH Công nghệ Vietbay, cho rằng đây chính là “điểm mù” của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Theo ông Lanh, công nghệ hỗ trợ số hóa dù tiên tiến đến đâu cũng trở nên vô nghĩa nếu không giải quyết được đúng vấn đề cốt lõi của nhà máy.
“Trong quá trình tư vấn và triển khai cho khách hàng, chúng tôi nhận thấy vấn đề không nằm ở việc ứng dụng công nghệ nào, mà là xác định đúng 'nỗi đau' và nhu cầu thực sự của doanh nghiệp,” ông Lanh nhấn mạnh. “Nhiều đơn vị vội vàng mua phần mềm, hệ thống về nhưng không đồng bộ, dẫn đến lãng phí và khó vận hành. Doanh nghiệp không cần phải đầu tư dàn trải ngay từ đầu. Quan trọng là chọn đúng khâu nào cần ưu tiên số hóa trước, triển khai từng phần, vừa chạy vừa đánh giá để tránh xáo trộn hoạt động sản xuất hiện tại.”
Đồng tình với quan điểm này từ góc độ doanh nghiệp trực tiếp thụ hưởng, ông Nguyễn Hồng Phong, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Dụng cụ An Mi (Anmi Tools) – một đơn vị đã mở rộng thành công hệ thống nhà máy tự động hóa quy mô lớn tại Bắc Ninh – cho rằng vốn đầu tư máy móc không phải là khoản đầu tư cần thiết đầu tiên.
“Trước khi tính đến vốn hay máy móc thiết bị, khoản đầu tư đầu tiên và quan trọng nhất của chúng tôi là con người”, ông Phong chia sẻ về bí quyết xây dựng nhà máy thông minh của mình. “Phải xây dựng và chuẩn bị đội ngũ nòng cốt có tư duy số hóa trước. Tại nhà máy ở Bắc Ninh, chúng tôi mất khoảng 6 tháng để kiện toàn đội ngũ và quy trình... Mọi bước đi đều phải dựa trên dữ liệu (data-driven) và hiệu quả tính toán rõ ràng”.
Sự chuẩn bị về nhân lực không chỉ nằm ở tinh thần mà phải được hệ thống hóa thành năng lực thực thi. Theo đại diện Anmi Tools, công ty đã phải thay đổi toàn bộ chương trình đào tạo nội bộ, không chỉ hướng dẫn thao tác máy móc đơn thuần mà xây dựng giáo trình chuẩn đo lường bằng kết quả đầu ra. Những kỹ sư gia công truyền thống được đào tạo để hiểu ngôn ngữ lập trình và giao tiếp với phần mềm quản lý tổng thể.
Ở khía cạnh cung cấp giải pháp, Vietbay cũng đồng hành cùng các nhà máy bằng lộ trình chuyển giao tri thức 3 giai đoạn: từ đào tạo tổng quan bức tranh hệ thống, đào tạo chuyên sâu theo từng vai trò đến thực chiến để đảm bảo công nghệ thực sự thẩm thấu và biến thành năng lực cạnh tranh cốt lõi của đội ngũ kỹ sư bản địa.
Bên cạnh yếu tố tư duy nội tại, việc chuyển đổi sang nhà máy thông minh không thể hoàn thiện nếu mỗi doanh nghiệp tự biến mình thành một “ốc đảo”. Để nâng cao giá trị gia tăng, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu (từ Tier 4, Tier 3 lên Tier 1 hoặc OEM), các nhà máy Việt Nam cần một hệ sinh thái dữ liệu minh bạch và một sự liên kết cộng đồng chặt chẽ.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất lại nằm ở thói quen quản lý và sự e ngại chia sẻ thông tin. Ông Lê Kỳ Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm.
“Rào cản lớn nhất chính là thói quen quản lý dữ liệu. Chuyển đổi số bản chất là dùng luồng thông tin để phục vụ ra quyết định. Vì vậy, trước khi nói đến AI hay IoT, doanh nghiệp cơ khí cần thay đổi nền tảng cơ bản nhất là quản lý vòng đời sản phẩm và quản lý dữ liệu kỹ thuật. Từ khâu thiết kế, gia công, đến bảo trì phải dùng chung một luồng dữ liệu số. Nếu vẫn quản lý bản vẽ và quy trình bằng giấy tờ rời rạc thì không thể lên nhà máy thông minh (smart factory) được”, ông Lê Kỳ Nam phân tích.
Khi dữ liệu đã được số hóa, thách thức tiếp theo là làm sao để các doanh nghiệp dám mở lòng, kết nối năng lực với nhau nhằm đáp ứng những đơn hàng lớn mà một nhà máy đơn lẻ không thể kham nổi. Sự ngần ngại về việc lộ bí mật kinh doanh hay năng lực sản xuất thực tế khiến nhiều liên kết đổ vỡ.
Giải quyết bài toán này, bà Trần Thị Huyền Thương, Phó Chủ tịch Công ty LITA Network, cho rằng rào cản lớn nhất giữa các nhà máy không phải là năng lực, mà là thiếu niềm tin có kiểm chứng. Thông qua các quy trình thẩm định trực tiếp (Factory to Factory), rào cản phòng thủ giữa các chủ doanh nghiệp dần được tháo gỡ.
“Tôi sẵn sàng chia sẻ nếu có các quy chuẩn bảo mật rõ ràng, chia sẻ thông tin theo từng cấp độ và quan trọng nhất là phải thấy được lợi ích kinh tế mang lại. Khi sự minh bạch giúp nhà máy giành được những đơn hàng lớn từ chuỗi cung ứng toàn cầu, thì việc chia sẻ dữ liệu được kiểm soát sẽ trở thành một loại 'tài sản' sinh lời chứ không phải rủi ro”, bà Hương nhấn mạnh.
Năm 2026, TP. Hồ Chí Minh quyết tâm đạt tăng trưởng GRDP cả năm trên 10%, phấn đấu quý III đạt từ 11,07% và quý IV đạt từ 12,3%. Đồng thời, Thành phố phấn đấu huy động trên 1,2 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển và thu ngân sách đạt mốc 1 triệu tỷ đồng…
Đà Nẵng đang chuẩn bị kế hoạch tăng cường hợp tác chiến lược với các đối tác châu Âu giai đoạn 2026-2030 tập trung vào 5 lĩnh vực chiến lược quan trọng…
Với mạng lưới 88 địa phương kết nghĩa trên thế giới sau hợp nhất, TP. Hồ Chí Minh kỳ vọng Đối thoại Hữu nghị lần thứ 3 năm 2026 sẽ trở thành không gian thúc đẩy các hợp tác, kết nối mới về đầu tư, đổi mới sáng tạo, logistics, cảng biển và phát triển bền vững...
Đề xuất di dời đoạn đường sắt Ga Hà Nội - Ngọc Hồi để phục vụ mở rộng Quốc lộ 1A đặt ra bài toán không chỉ về mặt bằng, mà còn về năng lực vận tải, khả năng kết nối và vai trò của các đầu mối trong mạng lưới đường sắt tương lai...
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8/2026 và 8 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trên nhiều lĩnh vực. Sản xuất công nghiệp bứt phá với chỉ số IIP 8 tháng tăng 11,9%, đạt mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 96,8% và vốn thực hiện đạt 17,25 tỷ USD – cao nhất 5 năm. Tổng mức bán lẻ, dịch vụ và du lịch duy trì đà tăng khá nhờ sức mua nội địa và lượng khách quốc tế vượt 15,9 triệu lượt. Dù xuất nhập khẩu đạt mức cao nhất của 8 tháng từ trước tới nay (770,14 tỷ USD), nền kinh tế vẫn nhập siêu 20,46 tỷ USD do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất tăng cao. Bình quân 8 tháng, CPI tăng 4,45%, lạm phát cơ bản được kiểm soát ở mức 4,24%...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, Chính phủ đã tổ chức phiên họp thường kỳ tháng 8/2026, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm và xác định những nhiệm vụ trọng tâm cho chặng đường còn lại của năm.