Tại diễn đàn, ông Sacha Dray, Chuyên gia Kinh tế, Ban chính sách kinh tế Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhận định rằng mặc dù thuế đối ứng từ Hoa Kỳ phủ bóng đen lên thương mại toàn cầu nhưng tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn ở mức hạn chế.
“Tác động từ việc Hoa Kỳ áp thuế đối ứng đến nay chưa phản ánh rõ vào giá hàng hóa, bởi phần lớn chi phí được các nhà bán lẻ hấp thụ. Điều này giúp giảm áp lực cho các quốc gia xuất khẩu như Việt Nam. Bên cạnh đó, mức thuế hiệu dụng thực tế mà Việt Nam phải chịu hiện thấp hơn mức công bố. Nhờ đó, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vẫn duy trì được tính cạnh tranh trong ngắn hạn”, ông Sacha Dray phân tích.
Thực tế, Việt Nam đang giữ vững đà tăng trưởng kinh tế và thương mại ấn tượng, thể hiện qua mức tăng GDP 8,2% trong quý III và chỉ số PMI duy trì ổn định trên ngưỡng 50.
Phân tích thêm về lợi thế thương mại, ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp tại Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, cho biết theo số liệu từ Hải quan Hoa Kỳ, mức thuế bình quân hàng hóa Việt Nam chịu tại thị trường này hiện khoảng 15%, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc (35%) và Ấn Độ (30%).
“Khoảng cách chênh lệch này giúp Việt Nam duy trì được lợi thế cạnh tranh trong khu vực ASEAN, bất chấp các biện pháp thuế đối ứng mới,” ông Thành nhấn mạnh.
Theo các chuyên gia, dù phán quyết cuối cùng của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ liên quan đến chính sách thuế dưới thời Tổng thống Trump có ra sao thì doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải thích nghi và chung sống với các biện pháp thuế đối ứng trong trung hạn.
Cũng tại diễn đàn, nhiều doanh nghiệp đã đặt câu hỏi cho bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương về tiến trình đàm phán thuế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng như mức thuế đối với từng nhóm hàng hóa cụ thể. Bà Hiền khẳng định, vấn đề then chốt không nằm ở mức thuế suất, mà là việc đáp ứng đúng và đủ quy tắc xuất xứ – yếu tố quyết định khả năng hưởng ưu đãi thuế quan trong các cam kết thương mại.
“Khi nói đến thuế quan, doanh nghiệp xuất khẩu thường quan tâm đến các mức thuế cụ thể đối với một số mặt hàng. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: tại sao chúng ta không chủ động chuẩn bị sẵn cho doanh nghiệp mình năng lực tuân thủ quy tắc xuất xứ, để dù mức thuế ưu đãi là bao nhiêu, doanh nghiệp vẫn có thể thực sự tận dụng được các cam kết thương mại?”, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu nói.
Tính đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác trên toàn thế giới, mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp trong nước đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, để thực sự tận dụng được các cam kết mở cửa thị trường từ phía đối tác, doanh nghiệp bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ các quy định về xuất xứ hàng hóa. Chỉ khi đáp ứng được tiêu chí này, lợi ích kỳ vọng từ các FTA mới có thể được hiện thực hóa.
Do đó, việc nắm rõ mức thuế suất chỉ là một phần; điều quan trọng hơn là phải bảo đảm rằng hàng hóa đáp ứng đầy đủ quy định về xuất xứ để đủ điều kiện được hưởng thuế ưu đãi.
Câu chuyện thuế quan, do đó, phải luôn song hành với năng lực tuân thủ quy tắc xuất xứ. Doanh nghiệp chỉ có thể khai thác trọn vẹn lợi ích từ các FTA mà Việt Nam đã ký kết nếu chủ động xây dựng năng lực xuất xứ từ khâu sản xuất đến kiểm soát chuỗi cung ứng – qua đó củng cố vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Bà Hiền phân tích mặc dù các hiệp định thương mại tự do (FTA) có thể khác nhau về chi tiết, nhưng đều có các điểm tương đồng trong quy định xuất xứ đối với một số ngành trọng điểm. Đây chính là cơ sở để các doanh nghiệp hoàn toàn có thể chủ động nghiên cứu, chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật và quy trình sản xuất phù hợp từ trước.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, quy tắc xuất xứ áp dụng cho từng nhóm sản phẩm là hoàn toàn khác nhau. Ví dụ, sản phẩm giày dép sẽ tuân theo quy tắc xuất xứ khác với sản phẩm dệt may; tương tự, linh kiện điện tử lại chịu quy định khác so với các thiết bị, máy móc hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, bà Hiền nêu một điểm cốt lõi mà doanh nghiệp cần lưu ý là: để sản phẩm được công nhận là có xuất xứ Việt Nam, quá trình sản xuất tại Việt Nam phải tạo ra một sự chuyển đổi bản chất, tức là làm biến đổi cơ bản tính chất, công dụng, hoặc cấu trúc kỹ thuật của nguyên liệu đầu vào so với sản phẩm đầu ra.
Ví dụ điển hình là ngành sản xuất socola. Nguyên liệu cacao có thể được nhập khẩu từ Nam Phi. Nếu công đoạn chế biến, tinh luyện và sản xuất sản phẩm cuối cùng được thực hiện tại Bỉ hoặc Thụy Sĩ thì sản phẩm sẽ được công nhận là có xuất xứ từ Bỉ hoặc Thụy Sĩ. Các quốc gia này có tiêu chuẩn kỹ thuật cao. Sản phẩm được công nhận xuất xứ vì đã đạt điều kiện “biến đổi cơ bản”. Điều này có nghĩa là tính chất và công dụng của nguyên liệu đầu vào đã thay đổi so với sản phẩm đầu ra.
Chốt tuần 3-5/9, mức giảm giá vàng miếng SJC dao động từ 800 nghìn – 1 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán. Trong khi đó, diễn biến vàng nhẫn “4 số 9” không đồng nhất giữa các doanh nghiệp, với mức tăng giảm khác nhau tại từng thương hiệu…
Báo cáo việc làm khả quan làm gia tăng khả năng Fed nâng lãi suất, nhưng ông Trump kêu gọi hành động ngược lại...
Cơ quan quản lý quỹ đầu tư quốc gia của Na Uy - quỹ có giá trị tài sản lên tới khoảng 2 nghìn tỷ USD - đang cân nhắc một thay đổi lớn trong danh mục đầu tư trái phiếu chính phủ...
Giá vàng thế giới giảm khá mạnh trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (4/9), khi báo cáo việc làm mạnh hơn dự báo của Mỹ làm gia tăng khả năng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất trong tháng này...
CPI bình quân 8 tháng năm 2026 đã tăng 4,45%, khiến dư địa để kiểm soát mặt bằng giá trong những tháng còn lại không còn nhiều. Trong bối cảnh giá năng lượng, vận tải và nguyên vật liệu tiếp tục tiềm ẩn biến động, Bộ Tài chính xây dựng hai kịch bản lạm phát năm 2026, tương ứng mức tăng CPI khoảng 4,5% và 5%...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.