Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2025 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính ngày 6/9 cho thấy do giá nhà ở thuê và ăn uống ngoài gia đình tăng kéo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 tăng 0,05% so với tháng trước.
CPI tháng 8 tăng 2,18% so với tháng 12/2024; tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng năm 2025, CPI tăng 3,25% so với cùng kỳ năm trước.
Trong mức tăng 0,05% của CPI tháng 8 so với tháng trước, Cục Thống kê cho biết có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng; 3 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm.
Trong 8 nhóm có chỉ số giá tăng, thì nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất, với mức tăng 0,21%. Chủ yếu do các nguyên nhân: Giá thuê nhà tăng 0,28% do nhu cầu thuê nhà tăng tại một số địa phương trong thời điểm chuẩn bị vào năm học mới, khi sinh viên và học sinh quay trở lại các thành phố lớn để học tập.
Bên cạnh đó, giá điện sinh hoạt tăng 1,01% do thời tiết nắng nóng làm nhu cầu sử dụng điện tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,49% do giá gạch, cát, đá tăng cao khi nguồn cung khan hiếm, chi phí sản xuất, vận chuyển tăng trong khi nhu cầu xây dựng cao.
Tiếp đến là nhóm giáo dục, có mức tăng 0,21% do một số trường đại học, trung học dân lập và mầm non tư thục tại một số địa phương điều chỉnh tăng học phí năm học 2025-2026. Cùng với đó, giá sản phẩm từ giấy tăng 0,9%; bút viết các loại tăng 0,71%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,52%.
Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,17% do nhu cầu mua sắm chuẩn bị bước vào năm học mới tăng. Trong đó, giá vải các loại tăng 0,28%; dịch vụ may mặc tăng 0,27%; giày dép tăng 0,18%; quần áo may sẵn và dịch vụ giày, dép cùng tăng 0,16%; mũ nón tăng 0,07%.
Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,17% do nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp hè và chi phí sản xuất tăng, trong đó giá nước giải khát có ga tăng 0,41%; nước khoáng tăng 0,3%; rượu các loại tăng 0,2%; nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,17%; bia các loại tăng 0,12%; thuốc hút tăng 0,11%...
Trước xu hướng tăng này, thống kê cho thấy lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 3,25% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục là các yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 30/8/2025, bình quân giá vàng thế giới ở mức 3.418,45 USD/ounce, tăng 1,47% so với tháng trước, chủ yếu do kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cắt giảm lãi suất, đồng USD suy yếu.
Mặt khác, bất ổn địa chính trị, hoạt động mua vào của các Ngân hàng Trung ương và nhu cầu vàng tăng mạnh tại các thị trường châu Á cũng đã tác động vào giá vàng thế giới.
Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 8 tăng 1,2% so với tháng trước; tăng 48,62% so với cùng kỳ năm 2024; tăng 36,51% so với tháng 12/2024. Bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 40,25% so với cùng kỳ năm trước.
Giá đô la Mỹ trong nước biến động ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 30/8/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 98,11 điểm, giảm 0,14% so với tháng trước, chủ yếu do kỳ vọng FED sẽ cắt giảm lãi suất trong tháng 9/2025 để hỗ trợ tăng trưởng.
Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8 tăng 0,36% so với tháng trước; tăng 4,43% so với cùng kỳ năm 2024; tăng 3,67% so với tháng 12/2024. Bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 3,45% so với cùng kỳ năm trước.
Trong bối cảnh đất nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc sản xuất thành công nhôm thỏi đầu tiên không chỉ là thành quả của một dự án công nghiệp, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự chủ, hiện thực hóa khát vọng chế biến sâu và nâng cao giá trị tài nguyên quốc gia...
Chỉ trong một thập kỷ, tỷ trọng của tôm hùm trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đã tăng từ khoảng 7% lên gần 25% trong nửa đầu năm 2026. Đà tăng trưởng này mở ra triển vọng đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD nếu tháo gỡ được các rào cản thị trường và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn...
Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.