Ngày 31/10, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng trình Quốc hội dự thảo Luật Công nghệ cao (sửa đổi).
Luật Công nghệ cao được ban hành năm 2008 là đạo luật đầu tiên và duy nhất điều chỉnh lĩnh vực này. Sau hơn 16 năm, Luật Công nghệ cao bộc lộ nhiều hạn chế trong ưu đãi, danh mục công nghệ, khu công nghệ cao và tổ chức thực hiện, đòi hỏi sửa đổi toàn diện để khắc phục bất cập và thúc đẩy phát triển.
Việc đề xuất xây dựng Luật Công nghệ cao (sửa đổi) nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về việc hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển công phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 và hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Luật còn nhằm triển khai thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, giao các thẩm quyền quản lý nhà nước cho các cấp chính quyền địa phương trong thúc đẩy phát triển công nghệ cao, nhất là khu công nghệ cao.
Bố cục Dự thảo Luật Công nghệ cao (sửa đổi) gồm 6 chương và 27 điều, giảm 8 điều và có sự thay đổi về cấu trúc, hình thức so với Luật Công nghệ cao hiện hành.
Phạm vi điều chỉnh quy định về hoạt động công nghệ cao, chính sách, biện pháp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, tài trợ kinh phí cho nghiên cứu, phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ chiến lược.
Báo cáo thẩm tra dự án Luật Công nghệ cao (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải nhận định Ủy ban cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành dự án Luật theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Đối với các nội dung cụ thể, về Chính sách của Nhà nước đối với phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược (Điều 4), Ủy ban cho rằng, dự thảo Luật đã quy định nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ, thu hút và khuyến khích đối với các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ cao.
Tuy nhiên, cần làm rõ hơn về nguồn lực bảo đảm cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong triển khai; cần quy định chỉ áp dụng các ưu đãi trong hoạt động sản xuất công nghệ cao trong thời gian doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí theo quy định. Đối với các dự án công nghệ cao tại vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo,...nghiên cứu bổ sung chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ vay vốn lãi suất 0% cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng số, ưu tiên cấp đất cho khu công nghệ cao.
Về tiêu chí xác định được ưu tiên đầu tư phát triển và công nghệ chiến lược (Điều 5), Ủy ban đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bổ sung tiêu chí cụ thể mang tính định lượng (đóng góp giá trị gia tăng, số bằng sáng chế, tiêu chuẩn hạ tầng, trình độ nhân lực,...) để đảm bảo tính khả thi, công bằng. Đồng thời, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, làm căn cứ xác định sản phẩm, dự án công nghệ cao được khuyến khích phát triển, được ưu tiên trong hoạt động chuyển giao công nghệ.
Về nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược (Điều 11, 12), Ủy ban đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định ưu đãi, hỗ trợ khi nghiên cứu, phát triển “công nghệ lõi”, “công nghệ mở” (khoản 3 Điều 11); được tài trợ, hỗ trợ kinh phí từ quỹ phát triển khoa học và công nghệ cho hoạt động nghiên cứu sáng tạo công nghệ cao (khoản 4, khoản 6 Điều 11).
Đề nghị rà soát quy định tại khoản 1 Điều 12 dự thảo Luật đảm bảo không chồng chéo với quy định tại Điều 61 Luật Khoa học, Công nghệ & Đổi mới sáng tạo về việc bố trí 3% ngân sách Nhà nước cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Về chính sách hỗ trợ, ưu đãi trong thực hiện thử nghiệm và trình diễn công nghệ cao, công nghệ chiến lược (khoản 3 Điều 13), báo cáo thẩm tra đề nghị nghiên cứu, bổ sung quy định về miễn trừ, giảm nhẹ trách nhiệm dân sự, hành chính đối với trường hợp thử nghiệm đúng quy trình nhưng gặp rủi ro từ những nguyên nhân khách quan; đồng thời làm rõ điều kiện ưu tiên tại điểm đ khoản 3 (như ưu tiên về giá, năng lực kỹ thuật) để bảo đảm minh bạch và thống nhất với Luật Đấu thầu.
Về phân loại doanh nghiệp công nghệ cao (khoản 2 Điều 16), dự thảo Luật quy định phân loại doanh nghiệp công nghệ cao ở 2 mức (mức 1 là các doanh nghiệp công nghệ cao có nhà đầu tư trong nước chiếm tỷ lệ phần vốn góp hoặc tỷ lệ sở hữu cổ phần trên 30% và nhận chuyển giao công nghệ lõi ở mức “đổi mới và phát triển”; mức 2 là các doanh nghiệp công nghệ cao còn lại), từ đó xây dựng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ khác nhau đối với các doanh nghiệp này.
Báo cáo thẩm tra nhận định, việc quy định như vậy có thể sẽ dẫn đến sự phân biệt giữa doanh nghiệp có vốn của nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, có thể ảnh hưởng tới chủ trương khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này. Do vậy, đề nghị xem xét, sửa đổi quy định đảm bảo công bằng và hợp lý hơn.




14 startup từ Đài Loan (Pre-A, Series A) và đại diện các quỹ đầu tư trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), sản xuất thông minh, chuyển đổi số, thúc đẩy hợp tác công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa hai hệ sinh thái…
Việt Nam hiện đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong nghiên cứu, phát triển cũng như thương mại hóa công nghệ 5G, và hiện tiếp tục đặt mục tiêu rút ngắn thời gian làm chủ công nghệ 6G, để tiến tới triển khai sớm trong thời gian tới...
Bộ Khoa học và Công nghệ xác định trong quá trình nghiên cứu, phát triển kinh tế không gian tầm thấp tại Việt Nam, các phương tiện bay chỉ là công cụ, còn giá trị kinh tế thực sự nằm ở hệ sinh thái công nghệ, dữ liệu và các dịch vụ đi kèm...
Tính đến hết tháng 7/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức đánh giá, xét chọn 48 nhiệm vụ khoa học công nghệ, ký 9 hợp đồng tài trợ, nghiệm thu 20 nhiệm vụ cấp quốc gia, cấp mới 292 tỷ đồng kinh phí nghiên cứu...
Luật Báo chí 2025 ra đời mở rộng không gian hoạt động báo chí, xác lập địa vị pháp lý các kênh nội dung đưa lên không gian mạng; thúc đẩy chuyển đổi số và mô hình báo chí đa dịch vụ, tăng cường quản lý của nhà nước.
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.