Ngày 11/9, Sở Công Thương Hà Nội tổ chức Hội nghị kết nối các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực với các trường đại học, cơ sở đào tạo dạy nghề trong nước.
Phát biểu tại hội nghị, ông Vương Đình Thanh, Phó giám đốc Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp (Sở Công thương Hà Nội), cho biết chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực thành phố Hà Nội đã được UBND thành phố triển khai từ năm 2018.
Đến nay, trên địa bàn thành phố đã có 104 doanh nghiệp có sản phẩm được công nhân là công nghiệp chủ lực, tạo ra việc làm cho hàng vạn lao động và đóng góp một phần quan trọng cho GRDP của thủ đô. Sản phẩm của những doanh nghiệp này có hàm lượng chất xám cao, có khả năng lan tỏa, dẫn dắt thị trường cũng như tham gia sâu vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngành công nghiệp chủ lực đang đứng trước những thách thức không nhỏ với yêu cầu đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tự động hóa, hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Cụ thể hơn, ông Nguyễn Công Cường, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội (HAMI), cho biết hiện nay nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp còn thiếu kỹ năng thực hành, thiếu ngoại ngữ, chưa quen với dây chuyền sản xuất hiện đại. Doanh nghiệp phải đào tạo lại trước khi sử dụng. Đây chính là khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế được cần tháo gỡ.
Do đó, các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực mong muốn có được nguồn nhân lực chuyên sâu, sẵn sàng tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất, làm chủ công nghệ mới và thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường lao động trong thời đại số.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần phối hợp trực tiếp với các cơ sở đào tạo trong việc xây dựng chương trình học và tham gia vào quá trình giảng dạy. Điều này không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn, mà còn giúp hình thành những chương trình “đào tạo theo đơn đặt hàng”, nơi nhà trường cung cấp chính xác những nhân lực có kỹ năng mà doanh nghiệp đang cần.
Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, ông Lê Đức Phương, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Khóa Việt Tiệp, cho biết doanh nghiệp sử dụng rất nhiều nhân sự về cơ khí chế tạo, công nhân làm khuôn mẫu điện và tự động hóa, mỗi năm tuyển thêm khoảng 50-60 lao động có tay nghề. Do đó, doanh nghiệp mong muốn tiếp cận các trường đào tạo các ngành nghề này và sẵn sàng nhận sinh viên có chuyên môn vào làm việc.
Trước nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp, thời gian qua, Trường cao đẳng Công nghệ Cao Hà Nội đã tích cực phối hợp doanh nghiệp, giúp các chương trình đào tạo sát với thực tế, đem lại hiệu quả cao. Nhiều ngành, nghề của trường có sinh viên được tuyển dụng trước khi ra trường, thậm chí, có những chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng, sinh viên được doanh nghiệp trả lương trong quá trình học tập và làm việc cho doanh nghiệp sau khi ra trường, với thu nhập cao, ổn định và cơ hội thăng tiến.
Trường đại học Công nghệ Đông Á cũng thiết lập liên kết chặt chẽ với nhiều tập đoàn, công ty lớn trong các lĩnh vực cơ khí chế tạo, công nghệ ô tô, điện tử, công nghệ sinh học, quản trị công nghiệp… Sự hợp tác này giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng nghề, phát triển kỹ năng mềm, ngoại ngữ và tư duy sáng tạo.
PGS.TS.Nguyễn Đức Thắng, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ Đông Á, cho biết hiện nhu cầu của sinh viên về các ngành công nghệ cao và kỹ thuật rất lớn. Nhà trường có 15.000 sinh viên thì có tới 10.000 em thuộc khối kỹ thuật, công nghệ.
Nhà trường tiếp cận đào tạo theo hướng "doanh nghiệp cần gì thì cố gắng sát nhất", sẵn sàng đầu tư máy móc, trang thiết bị, phòng lab để đào tạo.
Nhờ cách tiếp cận trên, Trường đại học Công nghệ Đông Á đến nay đã có 2 doanh nghiệp xây dựng phòng thực hành thí nghiệm tại trường, thực hiện chuyển giao công nghệ, đào tạo cho giảng viên và sinh viên, sau đó được ưu tiên tuyển dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo.
Tại hội nghị, các doanh nghiệp đã trao đổi trực tiếp với các nhà trường và sinh viên để nắm bắt nhu cầu tuyển dụng, khả năng đào tạo, trình độ và tiến hành tuyển dụng trực tiếp với các sinh viên đáp ứng đủ yêu cầu.
Trong bối cảnh đất nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc sản xuất thành công nhôm thỏi đầu tiên không chỉ là thành quả của một dự án công nghiệp, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự chủ, hiện thực hóa khát vọng chế biến sâu và nâng cao giá trị tài nguyên quốc gia...
Chỉ trong một thập kỷ, tỷ trọng của tôm hùm trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đã tăng từ khoảng 7% lên gần 25% trong nửa đầu năm 2026. Đà tăng trưởng này mở ra triển vọng đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD nếu tháo gỡ được các rào cản thị trường và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn...
Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.