Trong làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4, hàng loạt trọng điểm kinh tế phía Nam như TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Hà Nội, buộc phải giãn cách theo “Chỉ thị 16 ” suốt nhiều tháng ròng. Kéo theo đó là mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh đình trệ, khiến cho các chuỗi cung ứng nguyên vật liệu, chuỗi kết nối lưu thông và tiêu thụ hàng hóa bị đứt gãy.
Thực tế này dẫn đến lưu lượng và vận hành của dòng tiền doanh nghiệp bị cạn kiệt và tê liệt, đẩy các doanh nghiệp đã khó khăn càng khó khăn hơn.
Để ứng phó, Chính phủ đã triển khai song song các giải pháp chống dịch nghiêm ngặt cùng với phủ rộng vaccine. Sau nhiều nỗ lực, đến nay, tình hình dịch bệnh Covid–19 ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là TP.HCM, các tỉnh phía Bắc; trong đó có Hà Nội từng bước được kiểm soát. Một số địa phương bắt đầu nới lỏng để khởi động trở lại các hoạt động kinh tế.
Mong muốn hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp phục hồi hoạt động, đã đặt ra vấn đề cần có bộ giải pháp tổng thể; trong đó, giải quyết bài toán hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp trong bối cảnh đứt gãy dòng tiền được Quốc hội và Chính phủ đặc biệt quan tâm.
Mới đây, Quốc hội đã gợi ý cần thiết kế gói kích thích hỗ trợ lãi suất, tương tự gói “cấp bù lãi suất” giải ngân qua hệ thống ngân hàng giai đoạn 2009 – 2010.
Theo Chủ tịch Quốc hội, gói kích thích tài chính 10 năm trước đã mang lại kết quả rất tích cực. Mặc dù quy mô ngân sách bỏ ra một lượng vừa phải nhưng kéo theo đó là một lượng lớn vốn tín dụng được bơm ra nền kinh tế, tạo hiệu ứng tức thời cho các ngành trọng điểm cũng như tính lan tỏa tích cực cho cả nền kinh tế, tác động sâu sắc đến việc làm của người lao động. Vì vậy, trong giai đoạn tới, cần triển khai hỗ trợ theo hướng này.
Tuy nhiên, theo đại diện Ngân hàng Nhà nước và một số chuyên gia, gói hỗ trợ lãi suất triển khai hơn 10 năm qua mặc dù có mang lại hiệu ứng tích cực nhưng đến nay vẫn chưa quyết toán xong. Cùng đó, quá trình giải ngân xảy ra không ít phức tạp và bất cập, tiềm ẩn các rủi ro cho hệ thống. Bởi vậy, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đánh giá tác động, lựa chọn cách tiếp cận.
Thứ nhất,nhận diện và đánh giá bức tranh kinh tế hiện nay.
Thứ hai, phân tích lợi ích/rủi ro của gói hỗ trợ lãi suất và lựa chọn cách tiếp cận.
Toạ đàm có sự tham gia của:
Nội dung phiên thảo luận cũng sẽ được truyền thông trên chuyên mục Tiêu điểm số 64 Tạp chí Kinh tế Việt Nam, phát hành ngày 27/9 và cập nhật trên VnEconomy.
Trân trọng kính mời quý độc giả quan tâm theo dõi!
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát triển công nghiệp hàng hải theo tư duy hệ sinh thái, có trọng tâm, nâng cao năng lực tự chủ; không bao cấp trở lại, không đầu tư dàn trải và không để mất năng lực chiến lược.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Phú Thọ duy trì tăng trưởng trên 11%, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển công nghiệp công nghệ cao và xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng trong năm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Lào Cai đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế biên mậu, logistics, đẩy nhanh đầu tư công, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và tạo đột phá về chuyển đổi số.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.