“Khi xây dựng Đề án “Phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam đến năm 2030”, một vấn đề cần làm rõ là ranh giới giữa du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch y tế. Thực tế cho thấy, dù đã có những định nghĩa và cách phân biệt, hai khái niệm này vẫn thường được sử dụng lẫn lộn. Điều này liên quan trực tiếp đến việc cấp phép, quản lý và tổ chức hoạt động.
Cần xác định rõ phạm vi và nội hàm của du lịch chăm sóc sức khỏe. Những hoạt động có can thiệp y tế, chữa bệnh cần được phân định với các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao sức khỏe. Chẳng hạn, y học cổ truyền nếu sử dụng bài thuốc để chữa bệnh thì thuộc lĩnh vực y tế; trong khi những tri thức bản địa, phương pháp dưỡng sinh hay các giá trị của y học cổ truyền được sử dụng với mục tiêu nâng cao sức khỏe có thể được đưa vào sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe.
Việc phân định này cũng liên quan đến nguồn nhân lực và cơ sở cung cấp dịch vụ. Nếu hoạt động đòi hỏi chuyên môn hoặc có can thiệp y tế thì phải thuộc phạm vi tương ứng của lĩnh vực y tế. Ngược lại, du lịch chăm sóc sức khỏe cần được xác định với những yêu cầu riêng, từ đào tạo nhân lực đến phát triển cơ sở cung cấp dịch vụ. Nếu không làm rõ ngay từ đầu, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc xác định phạm vi hoạt động, trong khi cơ quan quản lý cũng khó xác định thẩm quyền.
Một vấn đề khác cần được tính đến là quy mô đầu tư. Có thể thấy hai xu hướng lớn.
Xu hướng thứ nhất là chăm sóc sức khỏe trở thành một phần trong trải nghiệm của chuyến đi. Khách có thể đi tham quan hoặc nghỉ dưỡng là mục đích chính nhưng vẫn sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong hành trình. Với mô hình này, cơ sở lưu trú hoặc nghỉ dưỡng không nhất thiết phải đầu tư thành một tổ hợp lớn mà có thể bổ sung những dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách.
Xu hướng thứ hai là kết hợp nhiều dịch vụ thành một trải nghiệm chăm sóc sức khỏe tổng thể. Mô hình này đòi hỏi tổ hợp dịch vụ và mức đầu tư lớn hơn. Vì vậy, Đề án cần tính đến cả hai hướng, thay vì chỉ tập trung vào những cơ sở quy mô lớn.
Cùng với đó, việc đưa tri thức bản địa và y học cổ truyền vào du lịch chăm sóc sức khỏe cũng cần được xác định rõ phạm vi. Một bài thuốc hay một tri thức có mục đích chữa bệnh không thể chỉ vì được đưa vào một chương trình du lịch mà trở thành sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Cần có sự xác nhận về khả năng sử dụng cho mục tiêu chăm sóc sức khỏe, đồng thời xác định rõ phạm vi chuyên môn liên quan.
Điều quan trọng là làm rõ nội hàm của du lịch chăm sóc sức khỏe trước khi phát triển sản phẩm, đào tạo nhân lực hay đầu tư cơ sở. Phát triển nhân lực cho du lịch chăm sóc sức khỏe phải khác với đào tạo nhân lực cho du lịch y tế; phát triển cơ sở chăm sóc sức khỏe cũng không đồng nghĩa với phát triển cơ sở y tế. Hai lĩnh vực có liên quan nhưng cần được xác định rõ ranh giới”.
“Du lịch chăm sóc sức khỏe đang chuyển từ một thị trường ngách thành một phân khúc có giá trị gia tăng cao. Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển, từ khí hậu, biển, rừng, khoáng nóng đến dược liệu, y học cổ truyền và hệ thống cơ sở nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, các nguồn lực hiện vẫn còn rời rạc, sản phẩm thiếu liên kết, tiêu chuẩn chưa đồng bộ, trong khi nhân lực chuyên biệt còn hạn chế. Điểm nghẽn lớn nhất vì thế không nằm ở tài nguyên, mà ở khả năng kết nối tài nguyên, sản phẩm, tiêu chuẩn, thị trường và thương hiệu thành một hệ sinh thái.
Trước hết, cần thống nhất khái niệm và phân tầng sản phẩm. Có thể chia thành ba tầng.
Một là, du lịch chăm sóc sức khỏe, với các hoạt động như nghỉ dưỡng, thiền, yoga, dinh dưỡng lành mạnh, tắm khoáng nóng, không đặt mục tiêu điều trị bệnh.
Hai là, chăm sóc sức khỏe có yếu tố y tế, với sự tham gia của chuyên môn y tế ở mức độ nhất định nhưng không lấy điều trị bệnh làm mục tiêu chính.
Ba là, du lịch y tế, bao gồm khám, chẩn đoán, điều trị, can thiệp và phục hồi chức năng, phải tuân thủ các quy định của pháp luật về y tế.
Phân tầng rõ thì mới có thể xây dựng chính sách phù hợp với từng loại hình. Không nên y tế hóa du lịch chăm sóc sức khỏe, nhưng cũng không thể du lịch hóa những hoạt động thuộc chuyên môn y tế.
Khung phát triển có thể được đặt trên ba lớp: một hệ sinh thái, ba tầng sản phẩm và các trụ cột chính sách. Hệ sinh thái cần sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, y tế, cộng đồng, cơ sở đào tạo, bảo hiểm và công nghệ. Các trụ cột gồm thể chế, điểm đến, sản phẩm, đầu tư, nhân lực, thị trường và dữ liệu. An toàn, chất lượng, xanh và bền vững là những yêu cầu xuyên suốt.
Không nên phát triển dàn trải mà cần lựa chọn khoảng 5-7 cụm điểm đến có lợi thế rõ ràng để thí điểm, đánh giá rồi nhân rộng. Cùng với đó là xây dựng bộ tiêu chí và nhãn chất lượng quốc gia theo nguyên tắc tự nguyện, không tạo thêm một loại giấy phép cho doanh nghiệp.
Sản phẩm chăm sóc sức khỏe có giá trị cao cũng không thể chỉ là phép cộng của spa, lưu trú hay khoáng nóng. Đó phải là một hành trình sức khỏe hoàn chỉnh, từ xác định nhu cầu, thiết kế chương trình, lưu trú, dinh dưỡng, vận động, thiền, trị liệu, trải nghiệm văn hóa và thiên nhiên đến đánh giá, hướng dẫn sau chuyến đi. Các doanh nghiệp du lịch, cơ sở y tế, đơn vị dược liệu, cộng đồng, bảo hiểm và doanh nghiệp lữ hành cần được kết nối thành chuỗi.
Việt Nam cũng không nên sao chép mô hình của các nước mà cần tạo bản sắc riêng từ những lợi thế như khoáng nóng, phương pháp truyền thống và y học cổ truyền, thiên nhiên, khí hậu, dinh dưỡng và ẩm thực địa phương.
Việt Nam không thiếu tiềm năng. Điều cần thiết là một cơ chế đủ mở, một tiêu chuẩn đủ chặt chẽ và một chiến lược đủ rõ để kết nối những lợi thế đó thành thương hiệu”.
“Du lịch chăm sóc sức khỏe đang có nhiều điều kiện để phát triển tại Việt Nam. Bên cạnh xu hướng quốc tế sau đại dịch Covid-19, thu nhập của người dân tăng lên cũng kéo theo nhu cầu quan tâm, chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình. Việt Nam có nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa phong phú, từ điều kiện tự nhiên đến các yếu tố văn hóa, tâm linh, đây là những cơ sở quan trọng để phát triển loại hình du lịch này.
Tuy nhiên, trước hết cần làm rõ nội hàm của du lịch chăm sóc sức khỏe. Hiện nay có nhiều khái niệm được sử dụng, từ du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch sức khỏe đến du lịch y tế; thậm chí du lịch tâm linh cũng có những yếu tố liên quan đến chăm sóc sức khỏe về tâm lý và tinh thần. Vấn đề không phải là lựa chọn khái niệm này để loại bỏ khái niệm khác, mà cần xác định một cách khoa học nội hàm của từng khái niệm và mối quan hệ giữa chúng trong hệ thống du lịch chăm sóc sức khỏe.
Khi nội hàm được xác định rõ, việc nhận diện sản phẩm cũng sẽ cụ thể hơn. Tắm khoáng nóng, tắm bùn khoáng, yoga, thiền... cần được xác định đâu là sản phẩm của du lịch chăm sóc sức khỏe, đâu là thành phần trong một sản phẩm du lịch nói chung. Có thể xây dựng một hệ thống phân loại để từ đó xác định một tour du lịch cụ thể bao gồm những sản phẩm chăm sóc sức khỏe nào.
Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc phát triển sản phẩm mà còn với công tác đánh giá. Khi xác định rõ phạm vi và sản phẩm của du lịch chăm sóc sức khỏe, chúng ta mới có cơ sở đánh giá tác động của loại hình này đối với kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng thời xác định mức đóng góp của du lịch chăm sóc sức khỏe trong tổng thu của ngành du lịch.
Vì vậy, làm rõ khái niệm và xây dựng hệ thống phân loại sản phẩm là cơ sở để du lịch chăm sóc sức khỏe phát triển đúng hướng, đồng thời tạo nền tảng cho việc đánh giá hiệu quả của lĩnh vực này trong tương lai”.
“Du lịch chăm sóc sức khỏe đặt ra những yêu cầu khác với nhân lực du lịch thông thường. Người làm trong lĩnh vực này trước hết phải có nghiệp vụ du lịch, đồng thời cần kiến thức cơ bản về sức khỏe, hiểu về an toàn dịch vụ, kỹ năng số, ngoại ngữ chuyên ngành, khả năng thấu cảm, cá nhân hóa dịch vụ và hiểu biết về văn hóa bản địa. Đây là lĩnh vực mang tính liên ngành, nhưng không đồng nghĩa với việc “y khoa hóa” nhân lực du lịch.
Vấn đề hiện nay là nguồn nhân lực chưa đồng đều và thiếu chuẩn hóa. Khoảng cách về kỹ năng số còn lớn, ngoại ngữ chuyên ngành chưa đáp ứng tốt yêu cầu của khách quốc tế, khả năng cá nhân hóa dịch vụ còn hạn chế, trong khi nhân lực chưa được đào tạo bài bản cho đặc thù của du lịch chăm sóc sức khỏe.
Tôi cho rằng cần chuyển từ đào tạo kiến thức sang hình thành năng lực nghề. Các chương trình đào tạo du lịch - khách sạn cần tích hợp nội dung về du lịch chăm sóc sức khỏe, phát triển các mô-đun chuyên sâu và cập nhật theo chuẩn nghề cũng như nhu cầu của doanh nghiệp. Phương pháp đào tạo cũng cần tăng tính thực hành, học qua tình huống, dự án thực tế và mô hình học tập gắn với công việc.
Đặc biệt, đào tạo không nên áp dụng một công thức chung cho mọi điểm đến. Ba Vì và Sa Pa có những điều kiện, đặc trưng khác nhau, do đó nhân lực phục vụ sản phẩm chăm sóc sức khỏe cũng cần được đào tạo gắn với đặc điểm của từng điểm đến. Bên cạnh giảng viên du lịch, quá trình này cần có sự tham gia của chuyên gia doanh nghiệp, chuyên gia y - dược và những người nắm giữ tri thức bản địa.
Tài nguyên tạo nên tiềm năng, sản phẩm tạo nên sức hút, nhưng nguồn nhân lực mới là yếu tố chuyển hóa tiềm năng thành trải nghiệm có chất lượng và giá trị kinh tế”.
“Trong dân gian vẫn còn lưu giữ hàng trăm, hàng nghìn bài thuốc được các lương y, thầy thuốc gia truyền lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nhiều bài thuốc được cho là có giá trị thực tiễn trong chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị cần xây dựng cơ chế đặc thù, cho phép các bài thuốc dân gian, bài thuốc gia truyền được kiểm định độc lập, đánh giá tiền lâm sàng và có đầy đủ cơ sở theo quy định được xem xét đưa vào hệ thống sản phẩm phục vụ du lịch chăm sóc sức khỏe.
Đồng thời, cần chuẩn hóa hoạt động sản xuất dược phẩm, trong đó cấp phép sản xuất ở quy mô phù hợp cho các cơ sở đáp ứng các tiêu chuẩn như ISO 22000, ISO 13485 và GMP đối với lĩnh vực y dược học cổ truyền, bảo đảm an toàn, vệ sinh trong quá trình chế biến, hoàn thiện và đóng gói sản phẩm.
Chúng tôi cũng kiến nghị Bộ Y tế phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, đưa kiến thức và kỹ năng thực hành về chăm sóc sức khỏe bằng y học cổ truyền vào chương trình đào tạo y khoa và các cơ sở đào tạo nghề du lịch, qua đó góp phần cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao”.
“Du lịch chăm sóc sức khỏe có nhiều khái niệm giao thoa như du lịch y tế, du lịch spa, du lịch trị liệu, du lịch nghỉ dưỡng hay du lịch dưỡng sinh. Vì vậy, cần phân tích rõ nội hàm của từng khái niệm để xác định đúng phạm vi của du lịch chăm sóc sức khỏe. Đây là vấn đề quan trọng bởi Đề án sẽ là cơ sở để xây dựng các chương trình, dự án và định hướng phát triển theo từng vùng.
Đây cũng là loại hình có tính liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp trong đào tạo nhân lực. Hướng dẫn viên, kỹ thuật viên, điều dưỡng viên, huấn luyện viên cần được đào tạo từ những lĩnh vực phù hợp, thay vì chỉ dựa vào một ngành đào tạo duy nhất.
Một hướng khác cần được chú ý là khai thác lợi thế dược liệu. Việt Nam có nguồn tài nguyên dược liệu và tri thức y học cổ truyền phong phú, nhưng các mô hình du lịch hiện nay chủ yếu tập trung vào khoáng nóng, spa và nghỉ dưỡng. Trong khi đó, có thể phát triển những chuỗi sản phẩm gắn với vườn dược liệu, thực dưỡng, tắm thuốc, nghỉ dưỡng và trải nghiệm các sản phẩm từ cây thuốc.
Đây có thể là hướng tạo bản sắc riêng cho sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe Việt Nam. Thay vì chỉ khai thác từng dịch vụ riêng lẻ, cần hình thành mô hình gắn bảo tồn dược liệu với trải nghiệm, chăm sóc sức khỏe và các giá trị văn hóa bản địa. Những khu vực có lợi thế về dược liệu như Đông Bắc, Tây Bắc cũng cần được xem xét trong định hướng phát triển và thí điểm mô hình”.
“Việt Nam không nhất thiết phải cạnh tranh bằng những wellness resort lớn hơn, mà bằng những trải nghiệm sức khỏe có bản sắc mà nơi khác khó có thể sao chép. Từ thực tiễn vận hành mô hình nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe, chúng tôi cho rằng điểm cốt lõi không nằm ở việc bổ sung một vài dịch vụ spa, massage hay yoga vào cơ sở lưu trú. Một mô hình bền vững cần hình thành chuỗi giá trị chăm sóc sức khỏe, trong đó tri thức y học cổ truyền và tài nguyên bản địa được chuyển hóa thành những sản phẩm, trải nghiệm có tổ chức.
Nền tảng y học cổ truyền có thể tạo ra hai giá trị: một câu chuyện để kể với khách hàng và nền tảng chuyên môn cho các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, hay còn gọi là wellness.
Du lịch chăm sóc sức khỏe hiện vẫn còn những điểm nghẽn về cơ chế, chính sách; thiếu bộ tiêu chuẩn chung và nguồn nhân lực chuyên biệt, trong khi tính liên kết vùng còn yếu. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị cần có cơ chế, chính sách cởi mở để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận lĩnh vực này; tiếp đó là xây dựng bộ tiêu chí chung ở cấp quốc gia.
Chúng tôi cho rằng câu hỏi lớn của du lịch chăm sóc sức khỏe Việt Nam trong giai đoạn tới không phải là có bao nhiêu khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe, mà là có bao nhiêu điểm đến thực sự tạo ra một hành trình chăm sóc sức khỏe có chất lượng, có bản sắc và có khả năng kết nối thành hệ sinh thái.
Chẳng hạn, đối với Tây Bắc, lợi thế cạnh tranh không nhất thiết nằm ở việc xây dựng những công trình lớn hơn, sang trọng hơn, mà ở khả năng biến dược liệu, rừng núi, văn hóa, tri thức bản địa và cộng đồng thành những trải nghiệm chăm sóc sức khỏe có chất lượng và giá trị kinh tế”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 38-2026 phát hành ngày 21/9/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-38-2026.html
Ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ để thích ứng với những biến động của thị trường toàn cầu, biến đổi khí hậu và các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường, truy xuất nguồn gốc và phúc lợi động vật.
Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, GS.Christopher S. Yoo, Trường Luật Carey thuộc Đại học Pennsylvania (Penn Carey Law), cho rằng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, nhưng là những “thách thức tốt”, bởi chúng xuất phát từ một nền kinh tế đang phát triển nhanh và có nhiều cơ hội.
Không chỉ được sử dụng để gia tăng tốc độ và quy mô tấn công, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành mục tiêu mới của tội phạm mạng, với chatbot và các hệ thống AI được doanh nghiệp tích hợp có thể trở thành “cửa ngõ” để hacker tiếp cận hệ thống phía sau. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Ngô Tấn Vũ Khanh, Giám đốc Quốc gia Kaspersky tại Việt Nam, cho rằng cuộc chiến an ninh mạng đang bước sang giai đoạn mới, khi AI vừa là công cụ tấn công, công cụ phòng thủ và đồng thời là mục tiêu bị tấn công.
Nuôi biển đang nổi lên như một động lực tăng trưởng mới của ngành thủy sản, với sản lượng và giá trị xuất khẩu tăng mạnh. Tuy nhiên, để phát triển quy mô lớn, hiện đại và bền vững, Việt Nam cần tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, tín dụng, công nghệ, con giống và quyền sử dụng mặt biển.
Năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở ra một giai đoạn mới trong nỗ lực toàn cầu bảo vệ tầng ozone và ứng phó với biến đổi khí hậu. Với việc đưa các chất HFC- những khí nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí theo hướng có tác động thấp hơn tới khí hậu...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Sau hơn nửa năm xung đột Mỹ - Iran, những kỳ vọng rằng căng thẳng sẽ sớm hạ nhiệt, eo biển Hormuz được khai thông và giá dầu trở lại vùng 70-80 USD/thùng đang gặp nhiều thách thức. Đầu tháng 9/2026, giá dầu Brent đã tiến sát 100 USD/thùng. Nhưng điều đáng chú ý không chỉ nằm ở con số này.