Nhiều ý kiến cho rằng khi nguồn cung thắt chặt vì chiến
sự Iran đẩy giá dầu leo thang, Mỹ - với vị thế là nước xuất khẩu ròng các sản phẩm
dầu mỏ - sẽ ít chịu tổn thương. Trong khi đó, Trung Quốc - nước nhập khẩu dầu thô lớn
nhất thế giới - mới là bên đối mặt rủi ro lớn hơn.
Tuy nhiên, ông Marko Papic, chiến lược gia địa chính trị của
công ty nghiên cứu đầu tư toàn cầu BCA Research, cho rằng nhận định này chưa phản
ánh đúng thực tế.
“Quan điểm rằng Mỹ có thể cắt nguồn cung dầu của Trung Quốc
và làm suy yếu khả năng tiếp cận dầu thô của nước này là hoàn toàn thiếu thực tế.
Không có kịch bản nào mà giá dầu tăng vọt lại có lợi cho Mỹ. Trái lại, Tổng thống
Mỹ Donald Trump có thể chịu ảnh hưởng tiêu cực do lạm phát nhiều hơn so với giới
lãnh đạo Trung Quốc”, ông Papic nhận xét với trang tin MarketWatch.
Theo ông Papic, dù Trung Quốc phụ thuộc lớn vào năng lượng
nhập khẩu, đây không phải điểm yếu chí mạng của nước này như suy nghĩ của nhiều
người. Nhờ duy trì mạng lưới nguồn cung đa dạng, Trung Quốc vẫn có
thể xoay sang các nhà cung cấp khác ngay cả khi Mỹ chặn dòng chảy dầu thô từ
Iran hoặc Venezuela.
Ông Papic cho rằng Trung Quốc không chỉ có thể tăng mua từ
các nhà cung cấp lớn như Nga và Saudi Arabia, mà còn có thể tiếp cận dầu được vận
chuyển qua mạng lưới tàu “bóng đêm” - tức các tàu chở dầu bị trừng phạt hoặc né
lệnh trừng phạt - đi qua những điểm trung chuyển như Malaysia.
“Do đó, ngay cả khi một phần nguồn cung bị gián đoạn, Trung
Quốc vẫn còn nhiều kênh khác để bù đắp thiếu hụt”, vị chuyên gia chỉ ra.
Ông Papic cũng nhấn mạnh rằng dầu thô là mặt hàng có thể mua
bán và thay thế lẫn nhau trên thị trường toàn cầu. Vì vậy, Iran và Venezuela
không bán được dầu cho Trung Quốc, lượng dầu đó sẽ chảy sang các thị trường
khác, còn Trung Quốc sẽ chuyển sang mua từ những nguồn cung khác. Theo ông, chỉ
khi cả thế giới cùng đồng loạt ngừng bán dầu cho Trung Quốc thì nước này mới thực
sự chịu cú sốc lớn - nhưng đó là kịch bản gần như không thể xảy ra.
“Trung Quốc có thể không còn mua được dầu bị trừng phạt với
mức giá rẻ như trước, nhưng phần chi phí tăng thêm này không quá lớn nếu xét
trên tổng thể. Một lợi thế khác của Trung Quốc là các nhà máy lọc dầu của nước
này có thể điều chỉnh khá nhanh để xử lý nhiều loại dầu thô khác nhau. Nhờ những yếu tố này, cùng với cơ chế điều phối tập trung của nhà nước, Trung Quốc có thể thích ứng
nhanh hơn và linh hoạt hơn trong việc tìm kiếm nguồn cung mới”, ông Papic chỉ
ra.
Ông Papic cũng cho rằng nhiều người đang nhầm khi xem Mỹ là
nước xuất khẩu ròng dầu thô. Theo ông, Mỹ xuất khẩu ròng các sản phẩm dầu tinh
chế, chứ không phải dầu thô - và đây là khác biệt rất quan trọng.
Trên thực tế,
Mỹ vẫn phải nhập khẩu ròng dầu thô, trong khi các nhà máy lọc dầu của nước này
chủ yếu được thiết kế để xử lý dầu thô nặng. Điều này khiến Mỹ phần nào kém linh
hoạt hơn so với Trung Quốc khi phải thay đổi nguồn cung đầu vào.
Ngoài ra, ông Papic cho rằng điểm quan trọng nhất nằm ở cấu
trúc của kinh tế Mỹ. Lĩnh vực năng lượng chỉ đóng góp chưa tới 10% GDP và sử dụng
khoảng 5% lực lượng lao động, trong khi tiêu dùng mới là động lực chính của nền
kinh tế Mỹ, đóng góp gần 3/4 GDP. Vì vậy, nếu giá xăng tăng lên 6,5 USD/gallon ở
California hoặc khoảng 4 USD/gallon ở nhiều bang khác tại Mỹ, người dân sẽ buộc
phải cắt giảm chi tiêu. Theo ông, đây mới là rủi ro lớn đối với kinh tế lớn nhất thế giới.
Đồng quan điểm, ông Jacob Shapiro, giám đốc nghiên cứu tại
công ty Bespoke Group, cho rằng Mỹ “có nhiều thứ để mất hơn”
so với Trung Quốc khi giá năng lượng tăng cao.
Giới phân tích đánh giá cao tư duy chiến lược của Trung
Quốc trong vấn đề an ninh năng lượng.
“Năm 2020, khi giá dầu rơi xuống mức âm vì đại dịch, Trung
Quốc đã tranh thủ mua vào và tích trữ một lượng lớn dầu thô. Phần lớn số dầu
này được lưu trữ trong các kho dưới lòng đất. Dù chưa có nhiều đánh giá đáng
tin cậy về quy mô chính xác, lượng dầu dự trữ của Trung Quốc được cho là vào
khoảng 1,2 tỷ thùng, tương đương 104 ngày sử dụng”, ông Shapiro nhận định.
Trong khi đó, Mỹ không tận dụng cơ hội theo cách tương tự.
Dưới cả chính quyền cựu Tổng thống Joe Biden và chính quyền Tổng thống Trump,
nước này đều xả kho dự trữ dầu chiến lược nhằm kiềm chế lạm phát. Vì vậy, ông
Shapiro cho rằng trong kịch bản Trung Quốc thực sự không thể nhập được dù chỉ một
thùng dầu, Mỹ mới là bên chịu tác động nặng nề hơn.
“Rất nhiều hàng hóa phục vụ đời sống hàng ngày của người Mỹ
đều đến từ Trung Quốc”, ông Shapiro chỉ ra.