Ngày 27/8/2025, tại Hà Nội, Bộ Công Thương phối hợp với Trung tâm nhiên liệu xanh toàn cầu, Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam đã tổ chức hội thảo quốc tế "Phát triển nhiên liệu sinh học trong thời kỳ mới - Những nhiệm vụ trọng tâm để kiến tạo tương lai nhiên liệu bền vững cho Việt Nam".
Phát biểu khai mạc sự kiện, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh: "Chuyển đổi năng lượng theo hướng xanh, sạch là xu thế tất yếu trên phạm vi toàn cầu. Trong xu thế đó, nhiên liệu sinh học, đặc biệt là xăng E10, được coi là một trong những giải pháp chiến lược, góp phần giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao giá trị ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng xanh, đồng thời đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia".
Lãnh đạo Bộ Công Thương khẳng định Việt Nam đã và đang chuẩn bị đầy đủ cơ sở pháp lý, hạ tầng kỹ thuật và năng lực sản xuất để triển khai đồng bộ việc sử dụng xăng E10 trên toàn quốc từ năm 2026.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhiên liệu sinh học tiến tới thay thế hoàn toàn cho xăng khoáng, cần vượt qua những thách thức lớn về công nghệ, chính sách và thị trường. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng phải nâng cao năng lực sản xuất nhiên liệu sinh học trong nước do chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu cho pha chế xăng E10.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về mở rộng vùng nguyên liệu, nâng công suất sản xuất ethanol, đồng thời xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh, khả thi để khuyến khích sản xuất, nhập khẩu và dự trữ chiến lược nguồn nhiên liệu sinh học", Bộ trưởng nhấn mạnh.
Bổ sung thêm, TS. Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), cho biết các nhà máy ethanol trong nước cũng gặp nhiều trở ngại khi trong tổng số 7 dự án chỉ còn 2 nhà máy hoạt động với khoảng 50% công suất, khiến khả năng chủ động nguồn cung bị hạn chế.
Bên cạnh khó khăn về sản xuất, Việt Nam cũng có những hạn chế trong khả năng phân phối xăng sinh học khi điều kiện cơ sở vật chất của nhiều cửa hàng kinh doanh xăng trong nước, nhất là các khu vực nội thành có mật độ dân số cao không đủ khả năng đáp ứng cùng một lúc bán quá 02 mặt hàng xăng.
Ngoài ra, công tác truyền thông chưa đủ mạnh để tạo niềm tin rộng rãi trong cộng đồng, trong khi các cơ chế tài chính, thuế, tín dụng cho lĩnh vực này vẫn còn nhiều vướng mắc, chưa tạo ra động lực thực sự để thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng. “Người dân còn e ngại chất lượng xăng sinh học, đặc biệt với phương tiện giao thông đời mới, xe máy, xe ô tô cao cấp”, TS. Đào Duy Anh chia sẻ.
Những điểm nghẽn trên đã dẫn đến tình trạng trong giai đoạn 2020 - 2024, Tiêu thụ xăng E5RON92 giảm mạnh, chỉ còn 21% thị phần (ước tính năm của 2024). Một số tỉnh như Đồng Nai, TP.HCM, Hà Nội ghi nhận E5RON92 bán ra chỉ chiếm dưới 20% lượng xăng tiêu thụ.
Trong bối cảnh đó, Bộ Công Thương đã xác định rõ lộ trình mới. Theo đó, từ năm 2026, Việt Nam sẽ bắt buộc áp dụng xăng E10 trên toàn quốc, ngoại trừ một số lĩnh vực đặc thù như quốc phòng, an ninh hay hàng không. Sau năm 2030, Bộ sẽ nghiên cứu nâng tỷ lệ phối trộn lên E15 hoặc E20 tùy điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, năng lực sản xuất và an ninh năng lượng.
Để triển khai, Bộ Công Thương giao Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công làm đầu mối hướng dẫn phối trộn, sửa đổi quy chuẩn kỹ thuật, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu thế hệ nhiên liệu sinh học mới và tăng cường hợp tác quốc tế. Cục Quản lý thị trường trong nước sẽ xây dựng chính sách giá, thuế, phí, kiểm tra và giám sát phân phối. UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm phát triển vùng nguyên liệu và hạ tầng sản xuất, phân phối tại địa phương; trong khi doanh nghiệp phải chủ động khởi động lại các dự án ethanol, đảm bảo tuân thủ tỷ lệ phối trộn theo quy định và chịu chế tài nếu vi phạm.
Mặc dù việc triển khai xăng E5 trong quá khứ gặp phải một số rào cản, song đại diện cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhận định Việt Nam đủ khả năng triển khai sản xuất xăng E10 và đáp ứng nhu cầu trong nước.
Ông Nguyễn Quang Dũng, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), đánh giá mặc dù chỉ chuyển đổi từ xăng E5 lên E10 nhưng nếu nói về mức độ phức trong quá trình logistics và kiểm soát chất lượng thì giống như từ “E5 lên E50”. Tuy nhiên, tập đoàn đã có bước chuẩn bị phù hợp cho quá trình này.
Theo đó, Petrolimex đã quy hoạch 7 cơ sở pha chế và phối trộn từ Bắc vào Nam sẽ trải qua quá trình nâng cấp và tăng công suất để cung ứng xăng E10 cho thị trường. Doanh nghiệp cũng đã xác định nguồn cung cấp xăng nền để phục vụ pha chế với mục tiêu chuyển toàn bộ 6 triệu m3 xăng nền mà Petrolimex đang kinh doanh mỗi năm sang xăng E10.
Theo đó, bên cạnh việc sử dụng sản phẩm từ các nhà máy trong nước như Nghi Sơn và Dung Quất, Petrolimex cũng sẽ nhập khẩu thêm xăng nền từ các quốc gia trong khu vực như Malaysia, Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc, sử dụng cơ sở hạ tầng đã có sẵn.
Nói về khả năng cung ứng ethanol phục vụ cho chuyển đổi sang xăng E5, ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, cho biết hiện cả nước có 6 nhà máy ethanol với công suất thiết kế lớn, song sản lượng thực tế chỉ đạt 40-60%, tương đương với 32.000 m3/tháng trong năm 2025.
Tuy nhiên, nhu cầu ethanol sẽ tăng nhanh khi chương trình E10 triển khai toàn quốc, buộc các doanh nghiệp vừa phải nâng cao năng lực sản xuất trong nước, vừa tính tới phương án nhập khẩu để tránh đứt gãy nguồn cung.
Ông Tuấn nhận định trong 2 năm tới, công suất sản xuất ethanol trong nước có thể tăng lên 45.000 m3/tháng, đáp ứng 45% nhu cầu trong nước. Phần còn lại có thể được nhập khẩu từ các quốc gia như Mỹ hay Brazil. Trong tương lai, Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học do có sản lượng khoảng 5 triệu tấn sắn lát khô/năm, trong khi nhà máy ethanol mới chỉ sử dụng khoảng 1,3 triệu tấn (chiếm khoảng 25%).
Ngành ethanol sẽ tạo đầu ra ổn định, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu tiểu ngạch, giúp nông dân yên tâm sản xuất. Các nhà máy ethanol cũng đang cải tiến công nghệ để tận dụng phụ phẩm như CO₂ lỏng, dầu fusel, DDGS phục vụ chăn nuôi, qua đó giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh.
Phúc lợi động vật ngày càng được quan tâm trong chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ và nghiên cứu khoa học, không chỉ vì yêu cầu đối xử nhân đạo mà còn gắn với sức khỏe vật nuôi, an toàn thực phẩm, hiệu quả sản xuất và yêu cầu của thị trường...
Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ từ “lợi thế chi phí” sang “năng lực cạnh tranh hệ sinh thái”. Vì vậy, cuộc đua thu hút FDI chất lượng cao sẽ không nằm ở quỹ đất rộng lớn, mà dựa trên tốc độ triển khai, hạ tầng kết nối, dữ liệu minh bạch và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh (ESG)…
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada từ ngày 24/9/2026 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Canada đang mở rộng từ thương mại sang đầu tư, năng lượng, công nghệ, khoáng sản quan trọng và tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng…
Từ vị thế quan trọng trong nguồn cung gỗ, cà phê, cao su toàn cầu, Việt Nam cần chuyển từ làm tốt khâu sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn sang chủ động xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn và tham gia định hình luật chơi của thị trường...
Không gian biển đang được nhìn nhận không chỉ là nơi khai thác một ngành kinh tế riêng lẻ. Cách tiếp cận ba chiều - từ mặt nước, cột nước đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển - mở ra khả năng tổ chức nhiều hoạt động trên cùng một vùng biển; đồng thời cũng cũng đặt ra yêu cầu mới về quy hoạch, điều phối và bảo vệ hệ sinh thái...
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Giữa núi rừng biên giới Yên Khương, đêm Trung thu năm nay trở nên đặc biệt hơn khi hơn 1.000 phần quà được trao tới các em học sinh, cùng những ước mơ nhỏ bé được lắng nghe và chắp cánh.