Giám sát chặt cơ chế "khai thác khoáng sản khẩn cấp” để tránh lạm dụng, thất thoát tài nguyên
Nhĩ Anh
02/12/2025, 01:25
Đồng tình với quy định miễn thủ tục cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 3,4 trong tình huống khẩn cấp, song đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ tiêu chí xác định tình trạng khẩn cấp, giới hạn phạm vi, khối lượng có thể khai thác, có cơ chế giám sát chặt chẽ để tránh lạm dụng, khai thác bừa bãi... Bên cạnh đó với khoáng sản nhóm 4 dễ khai thác vượt mức, nếu không kiểm soát có thể gây suy thoái môi trường...
Đề xuất cho phép khai thác khoáng sản nhóm 3–4 (chủ yếu là đất đá san lấp, cát sỏi phục vụ xây dựng) trong tình huống khẩn cấp mà không cần thực hiện các thủ tục cấp phép thông thường. Ảnh minh họa
Ngày 1/12/2025, Quốc hội thảo luận ở hội trường về: Dự án Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và Khoáng sản; Dự án Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Các đại biểu thống nhất việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Địa chất và Khoáng sản là hết sức cần thiết để tháo gỡ những điểm nghẽn, vướng
mắc phát sinh từ thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội đất nước trong bối cảnh mới. Đặc biệt là các vấn đề về cơ chế cấp phép khai thác, sử dụng khoáng sản phục vụ cho
các công trình, dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư khẩn cấp bách do cấp có
thẩm quyền quyết định góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm
2025 và tạo nền hướng tới tốc độ tăng trưởng 2 con số trong những năm tiếp
theo.
CƠ CHẾ HẬU KIỂM KHI ÁP DỤNG CƠ CHẾ KHẨN CẤP
Một nội dung thu hút sự quan tâm thảo luận của nhiều đại biểu
là đề xuất cho phép khai thác khoáng sản nhóm 3–4 (chủ yếu là đất đá san lấp,
cát sỏi phục vụ xây dựng) trong tình huống khẩn cấp mà không cần thực hiện các
thủ tục cấp phép thông thường.
Thảo luận về vấn đề này, đại biểu Phạm Văn Hòa, đoàn Đồng
Tháp đồng tình với cơ quan soạn thảo bổ sung điểm g và điểm h vào sau điểm e
khoản 2 của điều Luật Địa chất và Khoáng sản để áp dụng trong tình trạng khẩn cấp.
Quốc hội thảo luận ở hội trường về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và Khoáng sản.
Tuy nhiên, đại biểu cũng lưu ý về nguy cơ nếu quy định chưa
chặt chẽ. Đại biểu lo ngại kẽ hở này có thể bị lợi dụng: “Nếu cho phép khai
thác sai quy hoạch hoặc khai thác bừa bãi trong danh nghĩa tình trạng khẩn cấp,
thì nguy cơ sạt lở đất, suy thoái môi trường, ảnh hưởng cuộc sống dân cư là rất
lớn.”
Đại biểu nêu thực tế những năm gần đây, thiên tai, bão lũ diễn
biến khó lường; nhiều khu vực miền núi, trung du đối mặt với sạt lở nghiêm trọng.
Do đó, việc nới lỏng quy định khai thác đá, đất san lấp cần hết sức cẩn trọng.
Theo đại biểu, quy định hiện nay chưa xác định rõ cơ quan thẩm
quyền ban bố tình trạng khẩn cấp và chưa có cơ chế kiểm soát khối lượng khai
thác. Từ những lo ngại thực tế, đại biểu đề xuất dự thảo luật cần phải thể hiện
được một số nội dung như: quy định cụ thể phạm vi được khai thác; giới hạn khối
lượng; cơ chế kiểm soát, giám sát nghiêm ngặt tại địa phương và trách nhiệm của
Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp tỉnh.
Đại biểu Phạm Văn Hòa phát biểu thảo luận. Ảnh:Duy Linh
Không chỉ kiểm soát trước, đại biểu đề cao vai trò của hậu
kiểm. “Việc hậu kiểm là cực kỳ quan trọng trong thăm dò, khai thác khoáng sản.
Nếu không duy trì được thường xuyên vấn đề này sẽ dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng,
khai thác bừa bãi và khai thác không phải riêng vì mục đích công cộng mà còn phục
vụ cho mục đích khác”, đại biểu đoàn Đồng Tháp nêu.
Chia sẻ vấn đề này, đại biểu Nguyễn Tâm Hùng, đoàn TP.Hồ Chí
Minh, góp ý về miễn thủ tục khi khai thác khoáng sản nhóm 3 và nhóm 4 trong trường
hợp khẩn cấp tại điểm g khoản 2 Điều 4.
Tiếp cận ở hướng nội dung cho phép khai
thác khoáng sản nhóm 3 và 4 trong tình huống khẩn cấp không phải thực hiện thủ
tục cấp phép, đại biểu thống nhất nguyên tắc tạo cơ chế phản ứng nhanh song để
hạn chế nguy cơ lạm dụng cơ chế khẩn cấp trong thực tế, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu
cần xác định rõ tiêu chí tình huống khẩn cấp.
Cùng với đó đại biểu cho rằng cần phải có cơ chế hậu kiểm bắt
buộc về sản lượng, thời điểm, khu vực và mục đích khai thác, nhằm bảo đảm tài
nguyên không bị thất thoát và bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch.
LO NGẠI KHI “NỚI” THỦ TỤC VỚI KHOÁNG SẢN NHÓM 3 VÀ 4
Việc bổ sung khoản 1a Điều 55 về cấp phép khai thác khoáng sản
nhóm 3 phục vụ công trình, cũng như bổ sung điểm đ khoản 2 và bổ sung khoản 2a
Điều 73, khai thác khoáng sản nhóm 4 phục vụ công trình công cộng được các đại
biểu quan tâm cho ý kiến.
Về quy định cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 3 phục vụ các
dự án tại Điều 55, nghiên cứu nội dung bổ sung quy định tại khoản 1a Điều 55, đại
biểu Đàng Thị Mỹ Hương, đoàn Khánh Hòa cho rằng dự án luật đang quy định nới lỏng
rất nhiều thủ tục, không yêu cầu căn cứ vào phương án quản lý địa chất, khoáng
sản.
Đại biểu phân tích khoáng sản nhóm 3 là nhóm dễ phát sinh
khai thác vượt phạm vi, khai thác quá khối lượng. Nếu không được kiểm soát chặt
chẽ về sản lượng khai thác thì rất có thể dẫn đến việc mượn dự để khai thác
thương mại. Điều này tiềm ẩn rủi ro dễ dẫn đến thất thoát tài nguyên, tiêu cực,
tham nhũng nếu không quy định hệ thống giám sát khai thác, cơ chế kiểm soát sản
lượng bắt buộc đối với các trường hợp được miễn nhiều thủ tục tại khoản 1a Điều
55 của dự án luật.
Đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương, đoàn Khánh Hòa, phát biểu ý kiến thảo luận. Ảnh:quochoi.vn
Do đó, “cơ quan soạn thảo cần rà soát, nghiên cứu bổ sung tại
khoản này quy định bắt buộc về hệ thống giám sát khai thác thực hiện quan trắc
sản lượng theo mốc thời gian thực hiện và cần bổ sung quy định về công khai
thông tin, bổ sung quy định về chuẩn dữ liệu khai thác và trách nhiệm kiểm tra,
kiểm soát, giám sát đối với các cơ quan quản lý nhà nước cho phù hợp”, đại biểu
Hương đề nghị.
Liên quan đến sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 2 và bổ sung khoản
2a Điều 73, khai thác khoáng sản nhóm 4 phục vụ công trình công cộng, đại biểu
cho rằng dự thảo luật đã quy định miễn nhiều thủ tục, cho phép bỏ gần như toàn
bộ thủ tục đầu tư môi trường, như không phải phê duyệt chủ trương đầu tư, không
phải đánh giá tác động môi trường. Dự thảo luật chỉ quy định yêu cầu lập phương
án khai thác khoáng sản nhóm 4 và trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
để xem xét cấp giấy phép khai thác.
Theo đại biểu, khoáng sản nhóm 4 là khoáng sản dễ khai thác
vượt mức, nếu khai thác không kiểm soát có thể gây suy thoái môi trường. Việc
quy định không yêu cầu đánh giá tác động môi trường, một quy trình bắt buộc
theo Luật Bảo vệ tài nguyên môi trường là một bất cập. Việc quy định chỉ lập
phương án khai thác như dự thảo luật là chưa phù hợp.
Từ lập luận trên, đại biểu nêu rõ: phương án khai thác chỉ
là cơ sở kỹ thuật và kinh tế của dự án khai thác, báo cáo đánh giá tác động môi
trường mới là công cụ pháp lý để đánh giá toàn diện tác động của môi trường,
thiên tai và cộng đồng dân cư.
“Việc bỏ qua bước đánh giá tác động có thể gây lỗ hổng trong
quy trình phê duyệt, không đủ cơ sở để đánh giá toàn diện các rủi ro tiềm tàng,
gây lỗ hổng trong khâu đánh giá rủi ro môi trường, dễ dẫn đến tiêu cực và có thể
gây ra nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng, thiệt hại cho người dân sống gần hoặc trong
vùng khai thác và môi trường nếu có sự cố xảy ra, nhất là trong bối cảnh vừa
qua có nhiều thiệt hại do sạt lở đất, lũ lụt gây ra”, đại biểu nêu quan điểm.
Đại biểu đề nghị cần nghiên cứu bổ sung quy định trong lập
phương án khai thác khoáng sản nhóm 4, phải có báo cáo đánh giá tác động môi
trường theo quy định của pháp luật về môi trường. Cần nghiên cứu bổ sung quy định
về đánh giá rủi ro thiên tai trong phương án khai thác bao gồm việc ảnh hưởng đến
thủy văn, địa chất, sạt lở đất, lũ lụt và giải pháp khắc phục, giảm thiểu rủi
ro và cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án khai thác phải xem xét các yếu
tố này và báo cáo tác động môi trường trước khi cấp phép khai thác khoáng sản
nhóm 3 và 4.
Cùng với đó, để tăng trách nhiệm pháp lý của các tổ chức
khai thác, phòng ngừa tiêu cực trong việc bỏ qua đánh giá tác động và vi phạm
quy hoạch, bảo vệ quyền lợi của người dân trong vùng dự án khai thác, hạn chế
thiệt hại do khai thác gây ra, cần nghiên cứu bổ sung quy định chủ đầu tư hoặc
tổ chức khai thác phải cam kết về việc bồi thường thiệt hại nếu khai thác gây
tác động xấu đến môi trường, làm ảnh hưởng đến đời sống, gây thiệt hại kinh tế
của người dân, cộng đồng do dự án khai thác gây ra.
Nhằm tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước với người đứng
đầu, đại biểu đề nghị cần rà soát, nghiên cứu bổ sung quy định chặt chẽ việc
quy định chịu trách nhiệm nếu để xảy ra thất thoát tài nguyên, cấp phép trái
quy hoạch hoặc để xảy ra tình trạng khai thác vượt mức kéo dài…
Phân cấp cho địa phương cấp phép khoáng sản nhưng giám sát, hậu kiểm, không “thả nổi” quản lý
15:32, 06/11/2025
Sửa Luật Địa chất và Khoáng sản: Nguồn lực khoáng sản cho phát triển trong tình hình mới
16:52, 04/11/2025
Hoàn thiện pháp luật, tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên, khoáng sản
Theo lộ trình áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe ô tô tham gia giao thông đường bộ, từ ngày 1/3/2026, cơ quan đăng kiểm thực hiện kiểm định khí thải xe ô tô theo quy trình và phương pháp kiểm tra mới nhằm đảm bảo kết quả chính xác và đạt được các mục tiêu về môi trường...
Mô hình nông nghiệp xanh Trung Quốc và những gợi mở cho Việt Nam
Trong hai thập niên qua, Trung Quốc từng bước kiến tạo một hệ thống phát triển nông nghiệp xanh mang tính tổng hợp cao, dựa trên cải cách thể chế, đầu tư công nghệ, quy hoạch tài nguyên và thúc đẩy thị trường hóa dịch vụ hệ sinh thái. “Xanh hóa”nông nghiệp trở thành trọng tâm của mô hình phát triển mới ở quốc gia này...
Việt Nam – điểm đến chiến lược trong chuỗi đầu tư và đổi mới sáng tạo.
Nhân dịp tham dự cuộc họp Khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Hoa Kỳ, chiều 20/2 (giờ địa phương), Tổng Bí thư Tô Lâm đã tiếp ông Kurt M. Campbell, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, trao đổi về các định hướng phát triển lớn và hợp tác đầu tư, đổi mới sáng tạo giữa hai nước.
Việt Nam trở thành quốc gia liên kết của Cơ quan Năng lượng Quốc tế
Hội nghị Bộ trưởng Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) năm 2026 tại Paris (Cộng hòa Pháp) đã chính thức thông qua đề xuất đưa Việt Nam trở thành quốc gia liên kết, ghi nhận vai trò và cam kết của Việt Nam trong chuyển dịch năng lượng và hành động vì khí hậu.
Các tiêu chuẩn xanh dần trở thành “hộ chiếu thương mại” của thế kỷ 21
Từ 2026, kiểm kê khí nhà kính theo chuẩn quốc tế không chỉ tuân thủ pháp lý mà còn giúp các doanh nghiệp duy trì hợp đồng, giảm rủi ro loại khỏi chuỗi cung ứng và củng cố uy tín. Đây là công cụ quản lý dữ liệu, tối ưu vận hành và nắm bắt cơ hội chuyển đổi xanh...
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định gồm: Hà Nội có 11 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 32; Thành phố Hồ Chí Minh có 13 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 38; Hải Phòng có 7 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 19...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: