Theo Quyết định số 3212/QĐ-UBND vừa được Phó Chủ tịch UBND thành phố Huế Hoàng Hải Minh ký ban hành, Khu Bảo vệ cảnh quan Bắc Hải Vân có tổng diện tích 7.350 ha, trong đó diện tích rừng đặc dụng là hơn 6.270 ha do Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Hải Vân quản lý, cùng khu vực rừng cộng đồng của ba thôn Thủy Cam.
Vùng đệm của khu bảo vệ rộng 870 ha, nằm trong xã Chân Mây - Lăng Cô, bao gồm các thôn: Thủy Yên Thượng, Thủy Cam, Trung Kiền, Thủy Dương, An Cư Tây, Hói Dừa và Hải Vân.
Các chương trình trọng tâm được triển khai tại đây gồm: quản lý, bảo tồn và phục hồi cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ và giám sát đa dạng sinh học; khai thác và sử dụng bền vững dịch vụ hệ sinh thái; hỗ trợ sinh kế và phát triển vùng đệm; truyền thông môi trường; cải tạo cơ sở hạ tầng và hợp tác quốc tế.
Việc thành lập Khu Bảo vệ cảnh quan Bắc Hải Vân có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì, bảo vệ các giá trị cảnh quan tự nhiên, hệ sinh thái độc đáo cùng đa dạng sinh học phong phú, với nhiều loài động, thực vật đặc hữu, quý hiếm phân bố trong khu vực.
Khu vực này còn được xem là nguồn tiềm năng phát triển dịch vụ môi trường rừng, góp phần hấp thụ và lưu giữ carbon, giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng xanh cho Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô.
Mục tiêu cụ thể của quyết định là bảo vệ cảnh quan tự nhiên và hành lang đa dạng sinh học nối từ biển lên đến biên giới Việt - Lào; tạo vùng đệm sinh thái, cảnh quan tự nhiên cho Khu đô thị Chân Mây - Lăng Cô, Vịnh Lăng Cô và cụm di tích Hải Vân Quan, qua đó gắn kết phát triển kinh tế với bảo tồn thiên nhiên bền vững.
Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ và khai thác thị trường tín chỉ carbon, đang được xem là những giải pháp then chốt giúp ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, người trồng rừng và hoàn thiện nền tảng khoa học cho phát triển vùng nguyên liệu...
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.