VỊT CỔ LŨNG – TỪ NGUY CƠ MAI MỘT ĐẾN SẢN PHẨM OCOP
Giữa thung lũng xanh mướt nơi vùng cao Bá Thước cũ, nay thuộc đơn vị hành chính mới sau khi sắp xếp bộ máy chính quyền, những đàn vịt bơi lội trên dòng suối, cánh đồng đã trở thành hình ảnh quen thuộc. Giống vịt Cổ Lũng vốn được nuôi từ bao đời, nổi tiếng bởi chất lượng thịt thơm ngon, sức đề kháng tốt. Thế nhưng, trong giai đoạn phát triển nông nghiệp theo hướng chạy theo năng suất, giống vịt này từng đứng bên bờ biến mất khi người dân ưu tiên các loại vịt lai tăng trọng.
Năm 2016, địa phương bắt đầu thực hiện dự án phục hồi giống vịt bản địa Cổ Lũng. Cán bộ nông nghiệp trực tiếp về tận bản, hướng dẫn bà con cách xây dựng chuồng trại an toàn sinh học, kỹ thuật chăm sóc đàn vịt sinh sản và vịt thương phẩm. Từ vài hộ tiên phong, đến nay hàng trăm hộ đã tham gia.
Kết quả ghi nhận đến thời điểm này, tổng đàn vịt Cổ Lũng đạt trên 50.000 con. Con số này cho thấy nỗ lực bền bỉ nhiều năm trời đã được đền đáp. Giống vịt đã được cấp chỉ dẫn địa lý, được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao, tạo ra cơ hội lớn để mở rộng thị trường.
Ông Hà Văn Tình, người gắn bó với nghề nuôi vịt ở Cổ Lũng, chia sẻ: “Ngày trước chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, bệnh dịch hay khiến đàn vịt chết nhiều. Giờ được hướng dẫn kỹ thuật, vịt khỏe mạnh, ít hao hụt. Gia đình tôi đã có thu nhập ổn định hơn, không lo thiếu ăn như trước”.
Không dừng lại ở nuôi trong hộ gia đình, mô hình nuôi vịt Cổ Lũng đã hình thành các tổ hợp tác, liên kết tiêu thụ. Từ loài vật nuôi tưởng chừng biến mất, nay vịt Cổ Lũng đang góp phần xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng cho miền sơn thủy xứ Thanh.
QUẾ NGỌC THƯỜNG XUÂN – HƯƠNG RỪNG LAN TỎA
Nếu Cổ Lũng gắn với đàn vịt quý thì Thường Xuân lại nổi tiếng bởi quế Ngọc. Loài cây gắn bó với đời sống người dân miền núi không chỉ mang lại bóng mát, gỗ và hương liệu, mà còn tạo ra nguồn thu nhập đáng kể. Trước đây, diện tích quế thu hẹp do người dân chặt bỏ trồng keo, nhưng nhờ các chương trình bảo tồn, quế Ngọc đã dần khôi phục vị thế.
Trong giai đoạn 2015 – 2020, địa phương xây dựng đề án bảo tồn và phát triển quế Ngọc. Diện tích trồng mới và trồng xen lên đến 1.479ha, kết hợp keo lai để che phủ đất đồi và tăng hiệu quả kinh tế. Người trồng quế có thể thu 40 – 50 triệu đồng/ha mỗi năm, cao hơn hẳn so với trồng độc canh keo.
Đặc biệt, 6 hệ thống nồi chưng cất tinh dầu được đầu tư đã biến lá, cành quế thành nguồn nguyên liệu quý. Sản phẩm tinh dầu quế được công nhận OCOP 3 sao, mở ra hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Đến nay, địa phương đã có thêm 1.100ha quế tập trung, với mục tiêu năm 2025 đạt 9.000ha cùng 3,5 triệu cây phân tán.
Cây quế Ngọc không chỉ đem lại thu nhập cho hàng nghìn hộ mà còn tạo dựng thương hiệu. Hương quế theo chân thương lái lan tỏa ra nhiều vùng, thậm chí xuất khẩu. Đồi núi phủ xanh, môi trường được cải thiện, sinh kế bền vững dần định hình cho người dân miền cao.
NGUỒN GEN BẢN ĐỊA – TÀI SẢN CẦN ĐƯỢC PHÁT HUY
Thanh Hóa hiện có 756 nguồn gen cây trồng, vật nuôi và thủy sản có giá trị, trong đó 390 nguồn gen bản địa. Tỉnh đã bảo tồn được 119 đối tượng nguồn gen tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, đồng thời đưa vào sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa. Hiện nay, 231 sản phẩm đạt chuẩn OCOP 3 – 4 sao, trong đó 78 sản phẩm trực tiếp từ nguồn gen bản địa, 153 sản phẩm chế biến.
Danh mục nguồn gen đa dạng, từ cây ăn quả như bưởi Luận Văn, quýt vòi, cam Vân Du, dưa hấu Mai An Tiêm, đến vật nuôi như ngan sen, gà ri, lợn rừng, bò vàng. Mỗi giống bản địa đều gắn với địa danh, lịch sử và văn hóa cộng đồng, trở thành “chứng nhân” của vùng đất. Khi được phát triển thành sản phẩm thương mại, chúng vừa giữ gìn di sản, vừa mở ra cơ hội kinh tế.
Tuy nhiên, hành trình bảo tồn và phát triển không ít thách thức. Một bộ phận người dân chưa nhìn thấy giá trị dài hạn của giống bản địa, lo ngại về đầu ra và lợi nhuận so với giống lai. Kinh phí ngân sách cho công tác này còn hạn chế, trong khi việc nghiên cứu, chọn lọc, nhân giống chưa đồng bộ. Điều đó khiến tốc độ mở rộng diện tích cây bản địa hay tăng đàn vật nuôi còn chậm.
Để vượt qua trở ngại, nhiều chuyên gia cho rằng cần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của nguồn gen, gắn bảo tồn với lợi ích thiết thực. Đồng thời, cần tạo môi trường hấp dẫn để doanh nghiệp tham gia, đưa sản phẩm bản địa vào chuỗi giá trị, mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Hợp tác với các trường, viện trong ứng dụng khoa học, lai tạo và nhân giống chất lượng cao là yếu tố quyết định để sản phẩm giữ vững sức cạnh tranh. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi, đất đai và kỹ thuật sẽ tiếp thêm động lực cho người dân và hợp tác xã.
Trước áp lực cạnh tranh gia tăng từ hàng hóa nhập khẩu, việc vận dụng hiệu quả các công cụ phòng vệ thương mại không chỉ đơn thuần là giải pháp ứng phó tình huống, mà đã trở thành "lá chắn" chiến lược quan trọng giúp bảo vệ các ngành công nghiệp nền tảng, tạo dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng và thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững...
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) xây dựng ba kịch bản xuất khẩu thủy sản năm 2026, trong đó kịch bản cơ sở dự báo kim ngạch đạt 12,1 - 12,3 tỷ USD. Để đạt mục tiêu này, ngành kỳ vọng duy trì đà tăng tại các thị trường trọng điểm, đồng thời các điểm nghẽn về chi phí và thương mại được tháo gỡ…
Hàn Quốc từng là thành trì vững chắc của các thương hiệu ô tô nội địa và phương Tây. Tuy nhiên, thị trường này đang chứng kiến một cuộc lật đổ ngoạn mục khi xe điện sản xuất tại Trung Quốc ồ ạt tiến vào, chinh phục người tiêu dùng nhờ giá cả cạnh tranh và công nghệ hiện đại…
Thị trường xuất khẩu 7 tháng qua ghi nhận hàng loạt mặt hàng bị sụt giảm như gạo, cà phê, sầu riêng… Chỉ còn chưa đầy 5 tháng để đạt được mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Chính phủ giao là 72,4 tỷ USD và phấn đấu vượt mốc 74 tỷ USD, hàng loạt các giải pháp chiến lược cần được gấp rút triển khai một cách đồng bộ, thực tế và hiệu quả.
Thông tư 33/2026/TT-BNNMT nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, chuẩn hóa quy trình chứng nhận thủy sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ, tăng cường minh bạch nguồn gốc thủy sản khai thác và nâng cao hiệu quả quản lý hạ tầng cảng cá…
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Thị trường xuất khẩu 7 tháng qua ghi nhận hàng loạt mặt hàng bị sụt giảm như gạo, cà phê, sầu riêng… Chỉ còn chưa đầy 5 tháng để đạt được mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Chính phủ giao là 72,4 tỷ USD và phấn đấu vượt mốc 74 tỷ USD, hàng loạt các giải pháp chiến lược cần được gấp rút triển khai một cách đồng bộ, thực tế và hiệu quả.