1. Phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa là định hướng có tính chiến lược, xuyên suốt, nhất quán, thể hiện tư duy,
nhận thức, quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế, theo đó phát triển kinh
tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, vì
ấm no, hạnh phúc của toàn thể nhân dân.
Ngay từ Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta đã xác định:
"Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước".
Tới Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã nêu rõ: "Phát triển kinh tế phải
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách
phát triển, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”". Văn kiện các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng cũng đều thể hiện rõ
các nội hàm trong định hướng phát triển quan trọng này của Đảng ta. Đến Đại hội
XIV, Đảng ta đã một lần nữa nhấn mạnh: "Phát triển nhanh, bền vững, lấy
con người làm trung tâm, không đánh đổi môi trường và tiến bộ xã hội lấy tăng
trưởng kinh tế đơn thuần".
Trong bài viết quan trọng về "Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" vào tháng 5/2021, Cố Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã phân tích và chỉ ra rằng: "Chúng ta cần sự phát triển
về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng
khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân
ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ
không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ
của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài
hoà với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện
tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng
vật chất vô hạn độ và huỷ hoại môi trường".
Tổng kết 40 năm đổi mới cho
thấy, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một sự
sáng tạo của Đảng ta về mô hình phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội với mục đích phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với
xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
2. Qua 40 năm đổi mới, kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử, cho thấy những thành quả rõ nét từ quá trình phát
triển một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và
Nhân dân ta đã chọn.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, bao cấp, quy mô nhỏ bé và kém hiệu quả, Việt Nam đã vươn lên trở
thành một nền kinh tế có quy mô trên 500 tỷ USD, hội nhập sâu rộng vào chuỗi
giá trị toàn cầu. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người đạt trên 5.000 USD, đưa
Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Cùng với đó, chất lượng
tăng trưởng của nền kinh tế cũng có những chuyển biến tích cực: Đóng góp của
năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 47%, phản ánh
xu hướng chuyển dịch từ tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang dựa nhiều hơn
vào đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực; cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng hiện đại, trong đó tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, công nghiệp chế
biến, chế tạo và dịch vụ tăng nhanh; nhiều ngành công nghiệp mới, mô hình kinh
doanh mới hình thành, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế số và đổi mới sáng tạo...
Ở góc độ xã hội, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia giảm nghèo
nhanh nhất thế giới, với tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ trên 50% vào đầu những năm
1990 xuống còn dưới 5% trong những năm gần đây. Cùng với đó, chỉ số phát triển
con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, phản ánh sự tiến bộ đồng
thời về thu nhập, giáo dục và y tế. Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam không chỉ dừng lại ở con số, mà đã gắn chặt với tiến bộ và công bằng
xã hội.
Quan trọng hơn, những thành tựu
trên đạt được trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động lớn, đặc biệt là đại
dịch Covid-19, xung đột địa chính trị và bất ổn kinh tế toàn cầu. Vượt qua
những biến động bên ngoài, Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô,
kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và giữ vững ổn định chính trị - xã
hội.
3. Trong quá trình đổi mới và phát triển, bên cạnh những kết quả đã
đạt được, nền kinh tế nước ta cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, yếu kém. Đây
là điều tất yếu diễn ra trong quá trình phát triển; song đã có một số bài viết,
bình luận, thông tin xuyên tạc của một số đối tượng phản động lấy đó để phủ
định, tạo tâm lý hoang mang, nghi ngại về con đường đúng đắn mà Đảng và Nhân
dân ta đã lựa chọn.
Theo Kết luận Hội nghị Trung
ương 2 khóa XIV mới đây, trong đánh giá kết quả phát triển kinh tế - xã hội
giai đoạn 5 năm qua 2021 - 2025, Đảng ta đã thẳng thắn đánh giá: "Nền tảng
kinh tế vĩ mô của nước ta tuy cơ bản ổn định nhưng chưa thực sự vững chắc; năng
suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế; đóng
góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào tăng trưởng
còn chưa tương xứng với tiềm năng. Đồng thời, đời sống của một bộ phận người
dân vẫn còn khó khăn; tình trạng ô nhiễm môi trường, ngập lụt ở một số địa
phương chưa được kiểm soát hiệu quả; một số cơ chế, chính sách chưa theo kịp
yêu cầu phát triển mới...".
Đây là thực tiễn mang tính tất
yếu của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi sâu sắc cả về thể chế,
cơ cấu và mô hình tăng trưởng, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa
trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, một số đối tượng thù địch, cơ hội chính trị đã
lợi dụng những hạn chế, tồn tại này để xuyên tạc bản chất vấn đề, phủ nhận con
đường phát triển của Việt Nam. Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng Việt Nam “đánh
đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế", song thực tế đã cho thấy quan
điểm phát triển của Đảng ta là nhất quán và xuyên suốt: "Không đánh đổi
môi trường lấy tăng trưởng bằng mọi giá". Việc tăng cường hoàn thiện pháp
luật về môi trường, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn,
cũng như xử lý nghiêm các vụ việc gây ô nhiễm lớn trong thời gian qua cho thấy
quyết tâm rõ ràng trong việc hiện thực hóa quan điểm này của Đảng ta.
Hay cũng có luận điệu khác cho
rằng quá trình đổi mới và phát triển ở Việt Nam đang khiến cho phần lớn người
dân lao động ngày càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, các số liệu thực tiễn đã minh
chứng ngược lại: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam không ngừng tăng
lên, tỷ lệ nghèo giảm mạnh, hệ thống an sinh xã hội ngày càng được mở rộng và
hoàn thiện. Những khó khăn cục bộ của một bộ phận dân cư trong một số thời điểm
nhất định là có thật, đặc biệt trong bối cảnh chịu tác động của các cú sốc bên
ngoài như đại dịch hay biến động kinh tế toàn cầu, nhưng không phản ánh xu
hướng tổng thể của sự phát triển. Chính việc duy trì tăng trưởng gắn với tiến
bộ và công bằng xã hội đã góp phần bảo đảm ổn định xã hội và nâng cao chất
lượng cuộc sống của đại đa số người dân Việt Nam.
4. Quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội luôn có sự đấu tranh quyết liệt
giữa cái cũ và cái mới, tạo nên những biến đổi sâu sắc trong xã hội, trong nền
kinh tế... và là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp, không thể đạt
được trong một khoảng thời gian ngắn. Đặc biệt là, Việt Nam đang thực hiện quá
trình này trong bối cảnh thế giới đang ngày càng có những diễn biến phức tạp,
khó đoán định hơn trước dưới sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, cách mạng
khoa học công nghệ, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, cũng như sự chuyển
đổi sâu sắc của các mô hình phát triển trên thế giới. Việt Nam vừa phải xử lý
các hạn chế nội tại của một nền kinh tế đang phát triển, vừa phải thích ứng với
những biến động nhanh, phức tạp và khó lường từ bên ngoài. Ở trong nước, quá độ
lên chủ nghĩa xã hội thực chất là quá trình chuyển đổi toàn diện từ một nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập;
từ phương thức sản xuất dựa nhiều vào lao động giản đơn sang phương thức sản
xuất dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là quá trình luôn
tồn tại sự đan xen, đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa tư duy bao cấp và tư
duy thị trường; giữa cơ chế quản lý hành chính và quản trị hiện đại; giữa mô
hình tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu.
Thực tiễn 40 năm đổi mới cho
thấy, càng trong bối cảnh khó khăn, phức tạp, yêu cầu kiên định con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội càng trở nên quan trọng. Gần đây, trong phát biểu tại Hội
nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu quán triệt
sâu sắc “Bốn kiên định”, trong đó đặc biệt là kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Đây không chỉ là
yêu cầu về chính trị - tư tưởng, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự thống
nhất trong hành động của toàn hệ thống chính trị, từ đó phát huy hiệu quả của
mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
5. Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng
vươn lên mạnh mẽ, hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm, để đến năm
2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập
trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một
nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh
phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Để đạt được những mục tiêu đó, việc
giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa để phát triển một nền kinh tế hiện đại, vận hành
hiệu quả theo các nguyên tắc của thị trường, đồng thời bảo đảm tiến bộ, công
bằng xã hội, môi trường sinh thái là yếu tố cốt lõi cần phải được thấm nhuần
sâu sắc trong từng cán bộ, đảng viên, từng doanh nghiệp, người dân, để biến
nhận thức trở thành hành động thống nhất, quyết tâm mạnh mẽ, đưa nước ta vươn
lên phát triển thịnh vượng.
(*) TS. Dương Duy Hưng, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.