Quy định áp dụng đối với cơ quan nhà nước thực hiện quyền hạn và trách
nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản
lý nhà nước về đất đai; đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư; người có đất thu hồi và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thu hồi;
các đối tượng khác có liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất.
Theo đó, việc bồi thường về đất
khi Nhà nước thu hồi trên địa bàn Thành phố cơ bản được thực hiện bằng tiền.
Tuy nhiên, hộ gia đình, cá nhân,
người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn
liền với quyền sử dụng đất trên địa bàn Thành phố đủ điều kiện được bồi thường
khi Nhà nước thu hồi hết đất ở, hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất
sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa tại địa phương
mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn xã, phường
nơi có đất thu hồi, thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất,
bán nhà ở tái định cư theo quy định.
Trong quá trình thực hiện, UBND cấp
xã có trách nhiệm tổ chức công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo đúng quy
định của pháp luật; chủ trì phối hợp với đơn vị làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư, các đoàn thể để phổ biến và tuyên truyền vận động người bị thu hồi
nhà, đất chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước.
Đồng thời, phê duyệt các nội dung
thuộc thẩm quyền của UBND dân cấp xã: dự toán chi phí tổ chức thực hiện bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư; quy chế bốc thăm và phương án bố trí tái định cư; niêm yết
công khai tại trụ sở UBND xã và điểm dân cư các văn bản pháp lý liên quan, quyết
định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền; quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư; thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp
Giấy phép xây dựng (nếu có) và bàn giao đất cho trường hợp được giao đất, nhà
tái định cư theo quy định.
Quy định có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 2/4/2026, thay thế các Quyết định của UBND Thành phố: số 47/2016/QĐ-
UBND ngày 8/11/2016; số 56/2024/QĐ-UBND ngày 6/9/2024; số 38/2025/QĐ- UBND ngày
30/6/2025 và số 10/2026/QĐ-UBND ngày 18/1/2026.