Một năm sau khi triển khai mô hình mới, điều đáng chú ý trong Kết luận số 76-KL/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV không chỉ là yêu cầu tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy (Kết luận 76), mà còn là định hướng cho giai đoạn tiếp theo của cuộc cải cách.
Kế hoạch số 06-KH/TW thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (Kế hoạch 06) cụ thể hóa định hướng đó thành nhiệm vụ, lộ trình và trách nhiệm thực hiện.
Tinh gọn không phải đích đến cuối cùng, mà là nền tảng để nâng cao năng lực vận hành và quản trị quốc gia.
TỪ CẢI CÁCH CẤU TRÚC ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC VẬN HÀNH
Thực tiễn một năm vận hành mô hình mới đã tạo ra những chuyển biến tích cực. Tầng nấc trung gian được giảm, sự chồng chéo từng bước được khắc phục, phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, khoảng cách giữa chính quyền với người dân được rút ngắn.
Tư duy quản lý hành chính dần chuyển sang quản trị phát triển; bộ máy hoạt động thông suốt, không để gián đoạn công việc, không để khoảng trống pháp lý. Những kết quả này khẳng định chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là đúng đắn.
Quá trình vận hành cũng cho thấy một bộ máy tinh gọn chưa đồng nghĩa với năng lực thực thi được nâng lên tương ứng. Nếu chức năng, nhiệm vụ chưa rõ; quyền hạn được giao nhưng không đi cùng nguồn lực; cấp dưới được phân quyền nhưng vẫn phải xin ý kiến nhiều tầng; trách nhiệm chưa gắn chặt với quyền hạn và cơ chế giải trình; cán bộ chưa đủ năng lực; dữ liệu còn cát cứ, thiếu liên thông, thì việc giảm đầu mối khó tạo ra chuyển biến thực chất về chất lượng quản trị.
Vì vậy, Kết luận 76 đặt yêu cầu tiếp tục “tinh chỉnh” tổ chức bộ máy bên trong, đồng thời chuyển mạnh trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực quản trị quốc gia, năng lực kiến tạo phát triển và hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Cuộc cải cách không chỉ trả lời câu hỏi bộ máy có bao nhiêu đầu mối, mà phải làm rõ bộ máy vận hành ra sao, quyết định có nhanh hơn, trách nhiệm có rõ hơn, nguồn lực có được sử dụng hiệu quả hơn và người dân, doanh nghiệp có được phục vụ tốt hơn hay không.
Một thông điệp quan trọng của Kết luận 76 là mô hình mới phải vận hành trên nguyên tắc: rõ chức năng, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, không chồng chéo, không bỏ sót nhiệm vụ. Trung ương tập trung hoạch định chiến lược, xây dựng thể chế, quy hoạch quốc gia và kiểm tra, giám sát.
Cấp tỉnh giữ vai trò trung tâm trong quản trị, tổ chức không gian phát triển, liên kết vùng và phân bổ nguồn lực. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp đưa chủ trương, chính sách, pháp luật đến với người dân, doanh nghiệp và xử lý các vấn đề phát sinh từ cơ sở.
QUYỀN ĐẾN ĐÂU TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH VÀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT ĐẾN ĐÓ
Kế hoạch 06 cụ thể hóa tinh thần “tinh chỉnh” để bộ máy vận hành hiệu quả hơn, thay vì tiếp tục sắp xếp cơ học. Phân cấp, phân quyền là một trụ cột của mô hình quản trị mới, nhưng không thể chỉ dừng ở chuyển giao thẩm quyền trên giấy.
Quyền hạn phải đi cùng nguồn lực, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát quyền lực. Một cấp chính quyền chỉ có thể chịu trách nhiệm về kết quả khi có đủ thẩm quyền và điều kiện để hành động.
Yêu cầu đặt ra là không giao nhiệm vụ mà không bảo đảm điều kiện thực hiện; không giao quyền mà không gắn với trách nhiệm; không phân quyền mà thiếu kiểm soát.
Kết luận 76 nhấn mạnh nguyên tắc: “quyền hạn giao đến đâu, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát tới đó”. Kế hoạch 06 cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ rà soát, hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn, định mức và cơ chế phân bổ nguồn lực, đặc biệt ưu tiên cho cấp xã.
Cách đánh giá hiệu quả bộ máy cũng được điều chỉnh theo hướng chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị theo mục tiêu, dữ liệu, sản phẩm đầu ra và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Thước đo không chỉ là số lượng văn bản, cuộc họp hay quy trình, mà là kết quả cuối cùng: thời gian giải quyết thủ tục, tiến độ tháo gỡ vướng mắc, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và khả năng chủ động xử lý vấn đề của cấp cơ sở.
Cải cách bộ máy vì thế gắn liền với nâng cao chất lượng đội ngũ. Kế hoạch 06 yêu cầu quản lý biên chế bằng dữ liệu, lượng hóa công việc, đo lường hiệu quả thực thi; phân bổ biên chế linh hoạt, phù hợp với quy mô dân số, diện tích, mức độ phát triển và khối lượng công việc.
Cán bộ phải được đánh giá bằng sản phẩm cụ thể, kết quả đầu ra, tiến độ xử lý công việc và sự tín nhiệm của Nhân dân; thực hiện nguyên tắc “có vào, có ra, có lên, có xuống”.
Năng lực thực thi của cấp xã là chỉ báo quan trọng đối với hiệu quả mô hình mới. Khi không còn cấp trung gian như trước, cấp xã đảm nhận nhiều nhiệm vụ trực tiếp liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cơ sở không chỉ đủ người mà phải đủ năng lực, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, đầu tư, tài chính, tư pháp, công nghệ và chuyển đổi số.
Tinh giản biên chế chỉ có ý nghĩa khi đi cùng tái cấu trúc năng lực: giảm vị trí không còn phù hợp, đồng thời thu hút, đào tạo, trọng dụng và đãi ngộ người có chuyên môn cao. Một bộ máy tinh gọn, có đội ngũ chuyên nghiệp, được trao quyền thực chất và chịu trách nhiệm đến cùng sẽ nâng cao hiệu quả quản trị.
QUẢN TRỊ BẰNG DỮ LIỆU, AI VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN
Một biểu hiện rõ của bước chuyển sang nâng cao năng lực quản trị là việc Kết luận 76 xác định chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo là phương thức đột phá trong vận hành mô hình mới; Kế hoạch 06 cụ thể hóa yêu cầu này bằng các nhiệm vụ triển khai.
Chính quyền địa phương 2 cấp chỉ có thể vận hành thông suốt khi dữ liệu được kết nối từ Trung ương đến cơ sở theo nguyên tắc: “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Quyết định quản lý cần dựa trên dữ liệu thực tế, được cập nhật thường xuyên; tình trạng cát cứ dữ liệu, phần mềm manh mún, thiếu kết nối phải được khắc phục.
Trí tuệ nhân tạo được định hướng hỗ trợ cán bộ cấp xã trong tổng hợp, phân tích dữ liệu, cảnh báo rủi ro, giải đáp chính sách, hướng dẫn thủ tục hành chính và tiếp nhận phản ánh của người dân, doanh nghiệp. Việc ứng dụng phải bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và xác định rõ trách nhiệm quyết định cuối cùng thuộc về con người.
Quan trọng hơn công nghệ là thay đổi phương thức vận hành. Khi nhiệm vụ được xác định rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ trạng thái xử lý và được theo dõi trên hệ thống số, việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm sẽ được hạn chế. Dữ liệu liên thông giúp Trung ương tăng cường giám sát, cấp tỉnh điều phối hiệu quả hơn và cấp xã chủ động hơn trong giải quyết vấn đề tại chỗ.
Khi ý kiến của người dân, doanh nghiệp trở thành kênh dữ liệu trong đánh giá hiệu quả vận hành và mức độ hài lòng được coi là một thước đo trọng tâm, hiệu quả của bộ máy sẽ được đánh giá từ kết quả phục vụ, thay vì chủ yếu từ quy trình nội bộ.
Từ Kết luận 76 đến Kế hoạch 06, cuộc cải cách tổ chức bộ máy đang bước sang giai đoạn tiếp tục hoàn thiện tổ chức, đồng thời tập trung mạnh hơn vào chất lượng vận hành.
Thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không chỉ được đo bằng số đầu mối được sắp xếp hay biên chế được tinh giản, mà bằng chất lượng quyết định, tốc độ xử lý công việc, hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng lực giải quyết vấn đề từ cơ sở và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Tinh gọn bộ máy là điều kiện cần; phân quyền thực chất, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo là những phương thức quan trọng. Trong đó, năng lực cán bộ, trách nhiệm người đứng đầu và hiệu quả phục vụ Nhân dân là những yếu tố quyết định kết quả vận hành của mô hình mới.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh việc sửa đổi Luật Điện lực phải bảo đảm cung cấp đủ nguồn điện cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Đồng thời yêu cầu phải tìm điểm cân bằng giữa lợi ích quốc gia, người dân và nhà đầu tư; quyết liệt cải cách thủ tục nhằm đẩy nhanh tiến độ các dự án điện...
Dự án Luật sửa đổi Luật Điện lực được trình Quốc hội nhằm đẩy mạnh phân cấp, cắt giảm thủ tục và gỡ nghẽn đầu tư. Trọng tâm dự thảo hướng đến minh bạch cơ chế giá, xóa bỏ bù chéo, thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh gắn liền với an sinh xã hội và an ninh năng lượng…
Việt Nam và Đan Mạch nhất trí nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện, xác định thương mại, đầu tư, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh là những lĩnh vực hợp tác quan trọng, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao giá trị các chuỗi cung ứng.
Phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Đan Mạch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị doanh nghiệp Đan Mạch chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam”, tăng cường liên kết, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển các chuỗi giá trị xanh, bền vững.
Tiếp lãnh đạo Hội Hữu nghị Đan Mạch – Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Hội tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, góp phần làm sâu sắc quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê trong thời gian qua được ban hành nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư. Quỹ đất đối với nhà ở cho thuê sẽ được bố trí tại các khu vực phường thuộc đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2.