
Với diện tích 46,6 ha, nhà máy này là cơ sở lắp ráp và kiểm định lớn nhất của Intel trên toàn cầu. Sản lượng tích lũy từ năm 2010 đến năm 2021 đã đạt hơn 3 tỷ sản phẩm, cho thấy tầm quan trọng của cơ sở này trong mạng lưới sản xuất của Intel.
Trên thực tế, Intel đang hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực tại Việt Nam thông qua việc tài trợ dây chuyền đóng gói và kiểm định cho Trung tâm Đào tạo SHTP, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp bán dẫn.
Theo đánh giá của các chuyên gia, việc Intel đẩy mạnh sản xuất tại Việt Nam không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp bán dẫn trong nước. Đây là cơ hội để Việt Nam khẳng định vị thế của mình trên bản đồ công nghệ toàn cầu, đồng thời tạo ra những giá trị bền vững cho nền kinh tế.
Với những bước đi chiến lược và sự đầu tư mạnh mẽ từ các tập đoàn công nghệ hàng đầu, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên phát triển mới, nơi công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ là động lực chính thúc đẩy sự thịnh vượng và phát triển bền vững.
Sau 20 năm hoạt động tại Việt Nam, tính đến quý 2/2025, Công ty Intel Products Vietnam (IPV) đã xuất khẩu hơn 4 tỷ sản phẩm, đưa kim ngạch xuất khẩu lũy kế vượt mốc 100 tỷ USD. Hiện, nhà máy IPV đã trở thành cơ sở lắp ráp và kiểm định lớn nhất của Intel, chiếm hơn 50% sản lượng của Tập đoàn, tạo ra hơn 6.000 việc làm.
Ngoài ra, IPV đang tiếp tục ứng dụng các kỹ thuật công nghệ mới của Intel trong các sản phẩm, trong đó có dòng sản phẩm chip tiên tiến công nghệ 18A tiên tiến nhất. Đồng thời, nhà máy IPV cũng đang tiến hành chuyển giao công nghệ mới để sản xuất chip máy tính chủ, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực về AI, phát triển công nghệ đổi mới sáng tạo, hợp tác đầu tư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo…
Việt Nam tăng 5 bậc, lên vị trí 50 trong bảng xếp hạng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2026, trong đó TP. Hồ Chí Minh lần đầu góp mặt trong nhóm 100 hệ sinh thái khởi nghiệp hàng đầu thế giới...
Kinh tế tầm thấp và kinh tế không gian vũ trụ đang mở ra không gian phát triển mới, nhưng để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực sự, Việt Nam cần đồng thời giải bài toán về công nghệ, thể chế, hạ tầng, nhân lực và thị trường. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận những góc nhìn, kiến nghị từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu tại đối thoại “Phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam”, qua đó góp phần hoàn thiện hệ sinh thái này.
Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp, dù được xem là những động lực tiềm năng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, nhưng cũng đang vướng không ít điểm nghẽn. Nếu không sớm được tháo gỡ, Việt Nam sẽ không chỉ khó phát triển và khai thác đầy đủ tiềm năng của lĩnh vực này mà còn có nguy cơ tụt lùi so với cuộc chạy đua “thần tốc” của thế giới trong lĩnh vực này...
Các sản phẩm công nghệ cao, trong đó có các phương tiện bay không người lái (UAV) và công nghệ không gian vũ trụ (vệ tinh…), nếu không có “bàn tay” tạo dựng thị trường ban đầu của Nhà nước cho các sản phẩm mới, thì những lĩnh vực được xem là động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế sẽ khó có “đất dụng võ” và các doanh nghiệp sẽ không dám đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu, sản xuất...
Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp đang được nhiều quốc gia xác định là những động lực tăng trưởng mới trong quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ tạo ra các ngành công nghiệp công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn, hai lĩnh vực này còn góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và mở rộng các thị trường dịch vụ số...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Quy định cơ chế ủy quyền, giao thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan điều tra cho Trưởng, Phó trưởng công an cấp xã… có thể dẫn đến tình trạng thẩm quyền phân tán nhưng trách nhiệm khó kiểm soát. Thậm chí, điều này có thể vô hình chung làm hình thành thêm hơn 3.000 cơ quan điều tra ở cấp xã.