Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu nông sản và lâm sản trong 10 tháng qua đạt 19,2 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu nhóm hàng thủy sản đạt 6,89 tỷ USD, giảm 0,8%.
Do diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng lúa mùa năm nay ước tính đạt 8,03 triệu tấn, giảm 73,5 nghìn tấn so với vụ mùa trước. Với vụ lúa hè thu, diện tích gieo trồng đạt 1.954 nghìn ha, tăng 8,9 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2020; sản lượng đạt 11,04 triệu tấn, tăng 282,8 nghìn tấn so với vụ hè thu năm ngoái.
Tiến độ gieo trồng màu vụ đông tại các địa phương phía Bắc đạt thấp hơn so với cùng kỳ do ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới và mưa nhiều. Tính đến ngày 15/10/2021, cả nước gieo trồng được 63,8 nghìn ha ngô, bằng 94,1% cùng kỳ năm trước; 7,7 nghìn ha khoai lang, bằng 70%; 2 nghìn ha đậu tương, bằng 87%; 3,7 nghìn ha lạc, bằng 90,2%; 79,3 nghìn ha rau đậu, bằng 99%.
Chăn nuôi trâu, bò trong tháng 10/2021 nhìn chung ổn định, tổng số bò trong tháng tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số trâu giảm 3,9%; tổng số lợn giảm 1,5%; tổng số gia cầm giảm 1,2%. Tuy số lượng lợn và gia cầm giảm nhẹ, nhưng do tiêu thụ thịt giảm, khiến chăn nuôi đang lao đao.
Chăn nuôi lợn đang đứng trước nhiều khó khăn khi giá thịt lợn hơi trong tháng 10/2021 tiếp tục giảm sâu so với tháng trước do nguồn cung đã phục hồi nhưng nhu cầu tiêu thụ thấp. Thêm vào đó, giá các chi phí đầu vào tăng cao khiến nhiều cơ sở chăn nuôi bị thua lỗ. Chăn nuôi gia cầm gặp khó khăn do chi phí sản xuất tăng, nhu cầu thị trường giảm, lượng vật nuôi tồn đọng trong chuồng cao, tình trạng thua lỗ kéo dài.
Đối với ngành lâm nghiệp, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng 10/2021 ước tính đạt 30,5 nghìn ha, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 13,8 triệu cây, tăng 8,0%. Các cơ sở chế biến gỗ dăm dần hoạt động bình thường, nhiều nhà máy đã bắt đầu khởi động sản xuất các đơn hàng phục vụ nhu cầu cuối năm khiến nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng, giá gỗ keo tăng nhẹ nên người dân đẩy mạnh khai thác keo. Sản lượng gỗ khai thác tháng 10/2021 đạt 1.700 nghìn m3, tăng 3,2%; sản lượng củi khai thác đạt 1,4 triệu ste, giảm 2,2%.
Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 206,4 nghìn ha, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 78,9 triệu cây, tăng 3,3%.
Trong 10 tháng qua, sản lượng gỗ khai thác đạt 14.289 nghìn m3, tăng 4,2%; sản lượng củi khai thác đạt 15,7 triệu ste, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Đối với lĩnh vực thủy sản, sản lượng thu hoạch tháng 10/2021 ước tính đạt 798,1 nghìn tấn, tăng nhẹ 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: sản lượng cá đạt 555,7 nghìn tấn, tăng 0,8%; tôm đạt 135,8 nghìn tấn, giảm 0,1%; thủy sản khác đạt 106,6 nghìn tấn, giảm 2,8%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 492,1 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá đạt 324,7 nghìn tấn, tăng 1,2%; tôm đạt 123,4 nghìn tấn, tăng 0,1%. Trong tháng 10/2021, giá cá tra nguyên liệu ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long dao động ở mức 22.000-23.500 đồng/kg, tăng 500-1.000 đồng/kg so với các tháng thực hiện giãn cách xã hội. Nhờ dịch Covid-19 dần được kiểm soát nên việc thu hoạch, tiêu thụ và vận chuyển thuận lợi hơn. Sản lượng cá tra tháng 10 ước tính đạt 143,7 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước.
Giá tôm thẻ chân trắng nguyên liệu cũng đang tăng ở tất cả kích cỡ tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Các doanh nghiệp chế biến tôm đang trên đà phục hồi sản xuất, tăng dần công suất hoạt động so với những tháng có dịch Covid-19 bùng phát. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng 10/2021 ước tính đạt 85,3 nghìn tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; tôm sú đạt 33,6 nghìn tấn, giảm 0,9%.
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 10/2021 ước tính đạt 306,0 nghìn tấn, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: cá đạt 231,0 nghìn tấn, tăng 0,1%; tôm đạt 12,4 nghìn tấn, giảm 1,6%; thủy sản khác đạt 62,6 nghìn tấn, giảm 4,8%. Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 10 ước tính đạt 288,1 nghìn tấn, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước.
Khai thác thủy sản chưa khả quan do một số địa phương vẫn chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, cộng với ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, khiến số lượng tàu nằm bờ không hoạt động tăng nhiều so với cùng kỳ năm trước.




Nghị định 243/2026/NĐ-CP nới lỏng cơ chế điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu. Điểm mới nổi bật là nâng tỷ lệ bán điện dư lên 50% sản lượng, thay vì 20% như trước. Quy định cũng làm rõ đối tượng áp dụng và cách tính giá mua bán theo thị trường điện…
Không chỉ đơn thuần là những mặt hàng tiêu dùng, mỗi sản phẩm có mặt tại “Huế thương” còn là một câu chuyện về văn hóa, lịch sử và con người xứ Huế...
Trong những ngày cuối tháng 6/2026, khu vực Bắc Bộ và nhiều địa phương trên cả nước bước vào đợt nắng nóng diện rộng với nền nhiệt cao kéo dài, khiến nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh...
DOC vừa công bố kết quả sơ bộ đợt rà soát POR4 về thuế chống trợ cấp đối với lốp xe khách và xe tải nhẹ nhập khẩu từ Việt Nam. Đáng chú ý, mức thuế sơ bộ giảm xuống còn 3,01% - 5,84%, thấp hơn nhiều so với mức 6,46% - 7,89% ban đầu. Đây là tín hiệu tích cực cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong giai đoạn này…
Xu hướng Travel Well đang mở ra hướng đi mới cho du lịch Việt Nam khi chuyển trọng tâm từ tăng số lượng khách sang nâng cao giá trị trên mỗi du khách. Tại Diễn đàn Kinh tế Du lịch FIT 2026, các chuyên gia cho rằng việc kết hợp du lịch với chăm sóc sức khỏe, giáo dục, công nghệ và trải nghiệm cá nhân hóa sẽ tạo động lực tăng trưởng bền vững, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến Việt Nam...
35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.