Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Quốc khánh Lào (02/12/1975 – 02/12/2025), trưa ngày 1/12, ngay sau cuộc hội đàm cấp cao, lãnh đạo hai Đảng và hai Nhà nước đã chứng kiến lễ trao nhiều văn kiện hợp tác quan trọng.
Việc ký kết Biên bản ghi nhớ (MoU) giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Công Thương Lào về phát triển chuỗi liên kết công nghiệp diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Lào cùng đặt mục tiêu nâng cấp mô hình hợp tác kinh tế, khai thác hiệu quả lợi thế so sánh của mỗi nước, đồng thời tạo động lực mới cho thương mại – đầu tư song phương vốn đang cần một bước bứt phá về chất.
Bản ghi nhớ giữa hai bên về phát triển chuỗi liên kết công nghiệp giữa Việt Nam và Lào bao gồm 6 nội dung chính.
Thứ nhất: Xây dựng chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào
Chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào là mô hình hợp tác đa chiều giữa các doanh nghiệp hai bên trong hoạt động sản xuất hàng hóa và kinh doanh thương mại nhằm tạo ra mạng lưới liên kết chặt chẽ trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, bao gồm nhưng không giới hạn trong lĩnh vực cung cấp nguyên liệu thô, sản xuất, gia công, chế biến, chế tạo, thiết kế,… cũng như phân phối sản phẩm trên thị trường hai bên, khu vực và thế giới.
Chuỗi liên kết công nghiệp khuyến khích sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, khu kinh tế đặc biệt và khu hợp tác kinh tế biên giới của hai bên.
Thứ hai: Quan điểm phát triển chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào
Phát triển chuỗi liên kết công nghiệp trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, phù hợp với luật pháp của mỗi nước và điều ước quốc tế mà mỗi nước là thành viên.
Hai bên thống nhất xây dựng và phát triển chuỗi liên kết công nghiệp nhằm khuyến khích và tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu và kinh doanh thương mại của hai bên, góp phần tạo đột phá về thúc đẩy kim ngạch thương mại hai chiều, đưa mối quan hệ Việt Nam - Lào ngày càng đi vào thực chất và hiệu quả.
Trong phát triển chuỗi liên kết công nghiệp, hai bên công nhận, tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, phù hợp với điều kiện phát triển của mỗi bên.
Việc phát triển chuỗi liên kết công nghiệp nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh của hai bên, thúc đẩy công nghệ, đổi mới sáng tạo, tạo đột phá trong nâng cao năng suất và chất lượng cho doanh nghiệp hai bên.
Bên cạnh đó, phát triển chuỗi liên kết công nghiệp còn nhằm tăng cường năng lực các doanh nghiệp hai bên tham gia sâu hơn và giá trị hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba: Mục tiêu hợp tác phát triển chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào
Hai bên sẽ xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể để xác định và phát triển các chuỗi liên kết công nghiệp, bảo đảm tập trung, trọng tâm, trọng điểm, trước hết ưu tiên lựa chọn phát triển các mô hình hợp tác doanh nghiệp đã thiết lập mối quan hệ sản xuất và kinh doanh thương mại. Khi xác định và lựa chọn các dự án liên kết, hai bên khuyến khích xem xét các ngành và các vùng công nghiệp ưu tiên của hai nước, như chế biến nông sản, công nghiệp nhẹ, doanh nghiệp trong khu kinh tế đặc biệt và khu hợp tác kinh tế biên giới.
Nghiên cứu thí điểm về mô hình chuỗi liên kết công nghiệp đối với một số sản phẩm trong các ngành công nghiệp ưu tiên theo lợi thế cạnh tranh, chuyên môn hóa và chuỗi giá trị giữa hai bên.
Tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, xúc tiến phát triển thương mại giữa hai quốc gia. Hai bên cùng khuyến khích tăng cường hợp tác về thủ tục hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thương thương mại tại cửa khẩu và kết nối logistics giữa Việt Nam và Lào, bao gồm các hành lang kết nối sản xuất của Lào với các cảng biển Việt Nam.
Khuyến khích doanh nghiệp hai bên tham gia phát triển chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào. Xây dựng tiêu chí, phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào.
Thứ tư: Hợp tác phát triển chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào
Theo đó, trong giai đoạn đến năm 2030, hai bên theo lựa chọn các mô hình chuỗi liên kết công nghiệp sau đây để khuyến khích phát triển trong các lĩnh vực: Vật liệu (xi măng, sắt, thép,…); Hóa chất; Dệt may và da giày; Sản xuất cơ khí, phương tiện vận tải; Ngành sữa; Điện tử (linh kiện điện tử, phần cứng điện tử,…); Công nghiệp chế biến (Chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm,…); Khai thác và chế biến khoáng sản; Năng lượng tái tạo (thủy điện, điện gió, điện mặt trời), cũng như truyền tải điện và kinh doanh điện.
Biên bản cũng nêu rõ, trong quá trình triển khai xây dựng chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào, hai bên cam kết hỗ trợ lẫn nhau trong việc triển khai các sáng kiến trọng tâm sau: Phát triển chung mô hình thí điểm Khu Công nghiệp Việt Nam - Lào; Phối hợp nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin và phục vụ chính sách phát triển chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào.
Thứ năm: Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức, viên chức và doanh nghiệp của Lào
Phía Việt Nam tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng dành cho cán bộ, công chức, viên chức và doanh nghiệp của Lào trong các lĩnh vực có liên quan nhằm phát triển chuỗi liên kết công nghiệp Việt Nam - Lào. Phía Lào chịu trách nhiệm xác định và lựa chọn học viên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng tại Việt Nam.
Thứ sáu: Tổ chức thực hiện.
Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (VIOIT) của Bộ Công Thương Việt Nam và Viện Công nghiệp, Thương mại và Năng lượng (IICE) của Bộ Công Thương Lào được chỉ định làm đầu mối, chịu trách nhiệm điều phối triển khai thực hiện Bản ghi nhớ này.
Để việc hợp tác hiệu quả, nhanh chóng, hai bên có thể thành lập Nhóm Công tác chung do VIOIT và IICE đồng chủ trì để điều phối triển khai Bản ghi nhớ này, xây dựng kế hoạch công tác hàng năm hoặc hai năm và nộp báo cáo định kỳ lên các Bộ trưởng hai bên.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.