Tại hội thảo trực tuyến với chủ đề “Xây dựng bộ dữ liệu vùng trồng để phục vụ công tác quản lý và đáp ứng EUDR: Cách tiếp cận từ dưới lên” do Mạng lưới nghiên cứu chính sách nông lâm nghiệp tổ chức chiều 23/6/2026, các chuyên gia và nhà quản lý nhận định việc xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng không chỉ nhằm đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) mà còn là nền tảng để chuyển đổi phương thức quản lý nông nghiệp từ dựa trên báo cáo, số liệu giấy sang quản trị ngành hàng dựa trên dữ liệu.
Phát biểu tại hội thảo, TS Tô Xuân Phúc, chuyên gia Tổ chức Forest Trends, cho biết cơ sở dữ liệu vùng trồng là tập hợp các thông tin định lượng và định tính liên quan đến đất đai, cây trồng, diện tích, năng suất, chủ thể sản xuất cùng các dữ liệu không gian như bản đồ, tọa độ. Đây là nền tảng tích hợp phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Hệ thống dữ liệu vùng trồng không chỉ hỗ trợ quản lý nhà nước mà còn giúp xây dựng chính sách, nhận diện rủi ro, định hướng đầu tư và giám sát chuỗi cung ứng. Đối với doanh nghiệp, đây là công cụ quan trọng để minh bạch hóa nguồn cung, đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu hiện vẫn tồn tại phân tán giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân, thiếu cơ chế kết nối, chia sẻ và đồng bộ thông tin. Điều này làm giảm hiệu quả truy xuất nguồn gốc, đồng thời gây khó khăn cho quản lý vùng nguyên liệu và giám sát chuỗi cung ứng nông sản.
Ông Phạm Đình Lai, Chi cục trưởng Chi cục nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên, cho biết địa phương hiện có hơn 9.000 ha cà phê và đặt mục tiêu mở rộng lên 20.000 ha vào năm 2030. Trong giai đoạn đầu xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng, Điện Biên gặp nhiều khó khăn về phương pháp thu thập dữ liệu, lập kế hoạch triển khai và nguồn kinh phí. Trong khi nguồn lực còn hạn chế, yêu cầu kỹ thuật liên quan đến dữ liệu không gian, tọa độ, lô thửa và hiện trạng sử dụng đất lại rất cao.
Việc thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương khiến thông tin chưa được đồng bộ. Do đó, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình hướng dẫn sản xuất, tuyên truyền và giám sát việc tuân thủ EUDR".
Để khắc phục khó khăn, tỉnh đã lựa chọn cách tiếp cận “từ dưới lên”, lấy cấp xã làm lực lượng nòng cốt. Các mô hình thí điểm được triển khai thông qua tập huấn cán bộ địa phương và huy động lực lượng cơ sở hỗ trợ người dân thu thập dữ liệu theo từng lô đất. Kết quả bước đầu cho thấy người dân đã chủ động tham gia xây dựng dữ liệu vùng trồng và nâng cao nhận thức về các yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Từ thực tiễn triển khai, Điện Biên kiến nghị sớm xây dựng bộ công cụ và cơ sở dữ liệu thống nhất trên phạm vi cả nước, bảo đảm tính mở nhưng vẫn có sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời duy trì ổn định các phần mềm và công cụ thu thập dữ liệu để tránh gây gián đoạn trong quá trình thực hiện.
TS Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông (cũ), cho rằng Việt Nam hiện không thiếu dữ liệu nhưng lại thiếu một hệ thống liên thông và kết nối thống nhất. Doanh nghiệp đang nắm giữ dữ liệu về vùng nguyên liệu và liên kết sản xuất; hợp tác xã và nông dân có dữ liệu về diện tích canh tác, sản lượng; trong khi các cơ quan quản lý nhà nước sở hữu số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng. Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu này vẫn tồn tại rời rạc, chưa được kết nối để phục vụ hiệu quả công tác quản lý và ra quyết định.
"Ở nhiều địa phương vẫn còn sự nhầm lẫn giữa mã số vùng trồng và cơ sở dữ liệu vùng trồng", TS Phạm Tuấn Anh nêu thực tế; đồng thời cho biết mã số vùng trồng chỉ là công cụ kỹ thuật phục vụ truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu thị trường, trong khi cơ sở dữ liệu vùng trồng là nền tảng quản trị tổng thể ngành hàng, giúp nhận diện không gian sản xuất, kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị và hỗ trợ điều hành sản xuất.
Dẫn chứng từ thực tiễn, TS. Phạm Tuấn Anh cho biết ngành hàng sầu riêng hiện có hơn 40.000 ha nhưng chỉ khoảng 13.000 ha được cấp mã số vùng trồng, trong đó khoảng 20% số mã đã cấp không còn hoạt động. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ mà ở việc duy trì cập nhật dữ liệu thường xuyên và thu hút sự tham gia của người sản xuất.
Đánh giá về vai trò của cơ sở dữ liệu vùng trồng, TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định đây là yếu tố mang tính quyết định đối với công tác truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Dữ liệu cần được đồng bộ giữa các ngành, đặc biệt đối với đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp nhằm tránh tình trạng chồng lấn, hạn chế các rủi ro có thể dẫn tới vi phạm EUDR. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý, TS Hà Công Tuấn đề xuất phân loại dữ liệu vùng trồng theo ba nhóm gồm “xanh”, “vàng” và “đỏ”, phản ánh mức độ tuân thủ pháp lý và rủi ro trong sử dụng đất. Đồng thời, cấp xã cần được giao vai trò nòng cốt trong cập nhật dữ liệu bởi đây là cấp gần dân nhất và nắm rõ nhất những biến động trong sản xuất.
TS Hà Công Tuấn nhấn mạnh: Hệ thống dữ liệu cần được xây dựng thống nhất, đồng bộ từ cấp xã đến cấp tỉnh và trung ương, đồng thời phải được số hóa trên nền bản đồ số để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế số. Bên cạnh việc số hóa, điều quan trọng là lựa chọn giải pháp công nghệ có khả năng kết nối và tích hợp dữ liệu giữa các cấp quản lý, đồng thời cho phép doanh nghiệp và cơ quan nhà nước được phân quyền khai thác phù hợp.




Tây Nguyên có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu cùng hệ sinh thái để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, chất lượng giống chưa đồng đều, chế biến sâu hạn chế và liên kết thị trường chưa chặt chẽ đang là những điểm nghẽn cần tháo gỡ...
Trong 9 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp giải thể tăng tới 118%, trong khi khu vực đầu tư tư nhân chỉ tăng trưởng 14%, mức thấp nhất trong ba khu vực kinh tế. Trước áp lực này, TS. Nguyễn Đức Hiển nhận định để thích ứng với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027, doanh nghiệp cần tái cấu trúc quản trị, tài chính, mô hình kinh doanh và thị trường, thay vì chỉ dựa vào mở rộng vốn và quy mô…
Từ những cọng rơm quen thuộc trên đồng ruộng quê nhà, Nguyễn Xuân Tài (SN 1989) xã Quý Lộc, Thanh Hóa đã phát triển ý tưởng sản xuất mồi nhóm lửa, đưa sản phẩm tiếp cận khách hàng quốc tế qua nền tảng thương mại điện tử Amazon. Hành trình khởi nghiệp của anh mở ra hướng khai thác giá trị kinh tế từ phụ phẩm nông nghiệp...
Do đặc thù địa hình sa mạc và cơ cấu dân số chủ yếu là người nhập cư, UAE phải nhập khẩu tới 85% – 90% nhu cầu lương thực, thực phẩm. Trong bối cảnh đó, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam – UAE (CEPA) được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tại UAE, mà còn mở rộng sang toàn bộ thị trường Trung Đông và châu Phi...
Triển lãm và Hội nghị Năng lượng Toàn cầu Việt Nam (GEEC 2027) diễn ra từ ngày 24 đến 26/02/2027 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (VEC), Hà Nội, và hiện đang mở đăng ký trưng bày. Sự kiện quy tụ mười lĩnh vực trưng bày, hơn 120 phiên hội nghị, cùng các hoạt động kết nối dành cho chủ đầu tư, nhà cung cấp và tổ chức tài chính.
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Sự hiện diện của AEON MALL Thanh Hóa đang tạo thêm sức hút cho thị trường tiêu dùng địa phương. Với hàng trăm cửa hàng thuộc nhiều lĩnh vực cùng hệ thống mua sắm, ẩm thực và giải trí đồng bộ, trung tâm góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng của người dân.