Đề xuất đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm có tính liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương, là một trong những nhóm chính sách trọng tâm tại dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Việc xây dựng hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu truy nhập, sử dụng thông tin phục vụ quản lý nhà nước.
Theo Bộ Y tế, sự phát triển nhanh của các phương thức sản xuất, kinh doanh, phân phối thực phẩm, đặt ra yêu cầu chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực phẩm ngày càng trở nên cấp thiết.
Qua thực tiễn thi hành Luật An toàn thực phẩm trong thời gian qua, Bộ Y tế cho biết công tác quản lý hiện nay không chỉ dừng lại ở việc cấp phép, kiểm tra điều kiện cơ sở, thanh tra, xử lý vi phạm, mà còn đòi hỏi phải quản lý theo chuỗi, theo vòng đời sản phẩm, theo nguy cơ và trên cơ sở dữ liệu được cập nhật, chia sẻ kịp thời giữa các cơ quan quản lý.
Tuy nhiên, theo báo cáo của nhiều địa phương như An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Hà Nội, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Quảng Ninh, Vĩnh Long, Nghệ An, dữ liệu về an toàn thực phẩm hiện còn phân tán theo từng ngành, từng địa phương, chủ yếu lưu trữ dưới dạng hồ sơ giấy hoặc file điện tử rời rạc.
Chưa có một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm liên thông để kết nối với cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, dữ liệu Hải quan và Đề án 06 của Chính phủ.
Điều này cản trở việc thực hiện truy xuất nguồn gốc điện tử bằng mã QR/mã định danh, và áp dụng cơ chế phân luồng kiểm tra giảm đối với hàng nhập khẩu.
Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Luật An toàn thực phẩm, Bộ Y tế cũng cho biết hiện ngành y tế được phân công quản lý đối với 6/33 nhóm sản phẩm đã thực hiện kiểm soát tốt đối với các nhóm ngành được phân công quản lý; xử lý và chỉ đạo kịp thời các vụ ngộ độc thực phẩm.
Ngành Nông nghiệp và Môi trường được phân công quản lý an toàn thực phẩm đối với 19/33 nhóm ngành hàng. Ngành Công thương được phân công quản lý đối với 8/33 nhóm ngành hàng về an toàn thực phẩm.
Một vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật An toàn thực phẩm là yêu cầu chuyển đổi phương thức quản lý an toàn thực phẩm từ quản lý thủ công, phân tán sang quản lý dựa trên dữ liệu số, liên thông, phục vụ phân tích nguy cơ, hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo và xử lý sự cố.
Theo Bộ Y tế, mặc dù thủ tục hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đã được số hóa ở mức độ nhất định, thậm chí nhiều địa phương đã thực hiện 100% thủ tục trực tuyến, nhưng dữ liệu phát sinh từ thủ tục hành chính chưa được tự động chuyển tiếp, đồng bộ vào hệ thống quản lý chuyên ngành an toàn thực phẩm.
Điều này cho thấy nếu không có một hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm thống nhất, liên thông, thì việc quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi, theo nguy cơ và theo dữ liệu sẽ tiếp tục gặp khó khăn.
Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện quy định của Luật An toàn thực phẩm, theo hướng xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm thống nhất, liên thông từ trung ương đến địa phương, phục vụ quản lý, hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo nguy cơ và xử lý sự cố an toàn thực phẩm.
Trên cơ sở đó, tại hồ sơ dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Bộ Y tế đã đề xuất bổ sung quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm.
Theo đó, cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm bao gồm các thông tin về vòng đời sản phẩm; cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước; kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát; thông tin về ngộ độc thực phẩm; và các thông tin khác theo yêu cầu quản lý.
Cơ sở dữ liệu thông tin an toàn thực phẩm được quản lý tập trung, thống nhất. Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin an toàn thực phẩm trên cơ sở cập nhật, tích hợp thông tin, dữ liệu toàn ngành an toàn thực phẩm.
Đồng thời, kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với hệ thống thông tin của tổ chức, cá nhân ngoài ngành y tế, của y tế các nước và tổ chức quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Việc chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực phẩm cũng được đẩy mạnh. Dự thảo Luật nhấn mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý an toàn thực phẩm để bảo đảm minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc, kết nối và chia sẻ dữ liệu trong toàn bộ vòng đời thực phẩm, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế. Việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng được áp dụng khi giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực thực phẩm.
Dự thảo cũng đề xuất ứng dụng công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ số tiên tiến..., trong các hoạt động thử nghiệm, phân tích nguy cơ, phòng ngừa, ngăn chặn sự cố, khắc phục sự cố và truy xuất nguồn gốc, thu hồi xử lý sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm, kiểm tra đối với thực phẩm.
Để kết nối dữ liệu trong toàn bộ chuỗi cung ứng, dự thảo đề xuất quản lý thông qua mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc, nhãn điện tử và nền tảng số.
Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ số, nhãn điện tử, mã số, mã vạch và hệ thống truy xuất nguồn gốc phải bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu trong toàn bộ quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu; phải tuân thủ nguyên tắc về bảo mật thông tin, quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về an toàn thực phẩm sẽ được xây dựng, vận hành, kết nối, khai thác, chia sẻ trong cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định của pháp luật về dữ liệu.
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải lưu trữ đầy đủ các thông tin liên quan dưới dạng cơ sở dữ liệu trong quá trình kinh doanh và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu, theo lộ trình kết nối với hệ thống cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm do Chính phủ quy định.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, các quy định trong Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) phải hướng tới mục tiêu cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, hạn chế phát sinh thêm các thủ tục không cần thiết.
Việc ứng dụng công nghệ không chỉ là việc số hóa hồ sơ hay sử dụng phần mềm quản lý, mà quan trọng hơn là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ, liên thông giữa các cơ quan quản lý để phục vụ công tác giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm. Khi có cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác thì việc quản lý sẽ hiệu quả hơn, giảm được giấy tờ, giảm nhân lực và giảm nhiều khâu trung gian.
Qua công tác thanh tra, kiểm tra và ghi nhận phản ánh, Bộ Y tế cho biết tại một số cơ sở y tế, kể cả bệnh viện tuyến Trung ương và phòng khám đa khoa tư nhân, đã xảy ra tình trạng vi phạm nghiêm trọng quy định chuyên môn trong hoạt động khám sức khỏe...
Theo Viện kiểm sát, các công ty trong hệ thống Cây xanh Công Minh trúng thầu 1.218 dự án trên địa bàn 38 tỉnh/thành phố, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước tổng số tiền hơn 790 tỷ đồng...
Cơ quan Bảo hiểm xã hội cho biết hiện có khoảng 39.000 đơn vị không còn khả năng đóng bảo hiểm xã hội, với tổng số tiền chậm đóng khó thu hồi khoảng 5.100 tỷ đồng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động...
Tại kỳ họp chuyên đề (kỳ họp thứ bảy) HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết Quy định chính sách hỗ trợ một lần đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nghỉ giữ chức danh do cơ cấu, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ khi sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố năm 2026...
Lập sàn chứng khoán giả để thực hiện 920 vụ lừa đảo, nhóm đối tượng do Phó Đức Nam cầm đầu không chỉ chiếm đoạt hơn 1.500 tỷ đồng mà còn thực hiện hành vi rửa tiền quy mô lớn với hơn 561 tỷ đồng được "đổ" vào bất động sản, vàng và USD...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.