Mở đường cho giao thông hiện đại qua thẻ vé điện tử liên thông dữ liệu
Huỳnh Dũng
21/05/2025, 14:00
Không chỉ giúp người dân di chuyển thuận tiện, hệ thống thẻ vé điện tử liên thông đang mở ra cơ hội số hóa toàn diện lĩnh vực giao thông công cộng, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và quản trị đô thị bằng dữ liệu lớn…
Ảnh minh hoạ
Hệ thống thẻ vé điện tử liên thông đang được kỳ vọng trở thành một bước ngoặt trong hiện đại hóa giao thông đô thị, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và xây dựng thành phố thông minh.
Tuy nhiên, để giải pháp này phát huy hiệu quả, đòi hỏi sự liên thông hạ tầng, đồng bộ dữ liệu, xây dựng chính sách giá vé linh hoạt và chuyển đổi việc làm cho hàng nghìn lao động. Đây không chỉ là bài toán công nghệ, mà còn là bài toán xã hội đòi hỏi tư duy mới và tầm nhìn dài hạn.
Mới đây, tọa đàm "Giải pháp thanh toán thông minh phục vụ giao thông hiện đại” do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức đã cung cấp góc nhìn tổng thể, toàn diện về thực trạng và giải pháp cho hệ thống thẻ vé trong giao thông công cộng.
DỰ KIẾN 2/9 SẼ VẬN HÀNH HỆ THỐNG VÉ ĐIỆN TỬ LIÊN THÔNG
Theo ông Đỗ Việt Hải, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội, thành phố đã cơ bản hoàn thiện hệ thống chính sách để phát triển vé điện tử liên thông, trong đó có Quyết định số 3680/QĐ-UBND ngày 18/7/2024 quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật hệ thống thu vé tự động.
Bên cạnh đó, ngày 09/12/2024, thành phố tiếp tục phê duyệt chủ trương triển khai hệ thống vé điện tử liên thông đa phương thức thông qua hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin, với thời hạn từ năm 2025 đến năm 2030.
Dự kiến đến ngày 2/9/2025, hệ thống này sẽ được chính thức đưa vào vận hành. Đây là bước đi cụ thể hóa Đề án Giao thông thông minh đã được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 6936/QĐ-UBND.
Các khách mời tại Toạ đàm "Giải pháp thanh toán thông minh phục vụ giao thông hiện đại".
Theo Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội, hệ thống thẻ vé điện tử không chỉ liên thông giữa các tuyến xe buýt, đường sắt đô thị mà còn hướng tới kết nối với thu phí tự động, bãi đỗ xe, và các loại hình dịch vụ công khác. Đặc biệt, trong tương lai, hệ thống này có thể mở rộng ra phạm vi toàn quốc.
“Chúng tôi kỳ vọng hệ thống thẻ vé liên thông này sẽ tạo ra mạng lưới giao thông công cộng hiện đại, tiện lợi, minh bạch, văn minh và có thể tích hợp với các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như thẻ ngân hàng, căn cước công dân hay ứng dụng định danh điện tử VNeID”, ông Hải nhấn mạnh.
Ở góc độ doanh nghiệp hạ tầng thanh toán, ông Nguyễn Hoàng Long, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS), cho biết từ năm 2021, NAPAS đã phối hợp với VinBus tại Hà Nội thí điểm thanh toán bằng thẻ ngân hàng.
Đến nay, mô hình này được mở rộng ra bãi đỗ xe tại các cảng hàng không và mới nhất là tuyến Metro số 1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi hành khách có thể sử dụng thẻ nội địa NAPAS, thẻ quốc tế Visa, MasterCard để thanh toán trực tiếp.
“Chúng tôi đã hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, nghiệp vụ và sản phẩm để sẵn sàng kết nối hệ thống vé soát vé tự động với hệ thống thanh toán ngân hàng. Nếu ngành giao thông ban hành chủ trương liên thông, chúng tôi có thể triển khai ngay”, ông Long khẳng định.
Việc này không chỉ tạo thuận tiện cho người dân, mà còn là động lực để phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong lĩnh vực giao thông, một trong những lĩnh vực tiếp xúc với hàng triệu người mỗi ngày.
MONG CHỜ DỮ LIỆU SỚM LIÊN THÔNG
Mặc dù vậy, một trong những rào cản lớn hiện nay là sự thiếu liên thông giữa các tuyến vận tải công cộng, đặc biệt là giữa các tuyến đường sắt đô thị.
Theo ông Khuất Việt Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Metro Hà Nội, hiện Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều đã áp dụng hệ thống thu soát vé tự động. Các hệ thống này vận hành ổn định nếu hoạt động độc lập từng tuyến, với ưu điểm lớn là tốc độ xử lý nhanh, đặc biệt trong giờ cao điểm.
Tuy nhiên, tại Hà Nội, thẻ vé của hai tuyến đường sắt đô thị chưa liên thông, gây bất tiện cho người dân. “Người dân không có vé tháng buộc phải mua vé lượt trực tiếp tại nhà gam một thao tác bất tiện và không phù hợp với xu thế số hóa”, ông Hùng chia sẻ.
Ông Hùng bày tỏ mong muốn dữ liệu giữa các tuyến metro, xe buýt và các hình thức vận tải công cộng khác sẽ sớm được đồng bộ, để hành khách có thể sử dụng một phương tiện thanh toán duy nhất.
Được biết, hiện Cục Cảnh sát C06, Bộ Công an là đơn vị chủ lực phối hợp với Hà Nội, TP.HCM, Bộ xây dựng, Bộ Tài chính thực hiện phương án sử dụng VNeID để mua vé.
Đối với 2 tuyến metro của Hà Nội, tuyến 2A đã hết hạn bảo hành nên Bộ Công an có thể cùng phối hợp triển khai. Tuy nhiên, tuyến 3.1 vẫn đang trong thời gian bảo hành, cần đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của hợp đồng bảo hành nên chưa thể triển khai đồng bộ.
Ông Đỗ Việt Hải, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội, khẳng định ngay từ những ngày đầu, cơ quan chức năng đã xác định mục tiêu hàng đầu là hệ thống thẻ vé liên thông đó phải thuần Việt và người Việt phải làm chủ hệ thống thẻ vé liên thông này.
Theo đại diện của Sở Xây dựng Hà Nội, các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện đã không còn là khúc mắc lớn khi đã được NAPAS hỗ trợ triển khai tiêu chuẩn VCCS (Bộ tiêu chuẩn thẻ chip cho thanh toán nội địa ở Việt Nam). Ông khẳng định trong khung kỹ thuật hiện tại, việc tích hợp với CCCD hoặc VNeID là hoàn toàn khả thi.
THAY ĐỔI THÓI QUEN, TÁI CẤU TRÚC NGUỒN LỰC
Bên cạnh vấn đề về hạ tầng, tiêu chuẩn công nghệ, theo ông Đỗ Việt Hải, rào cản quan trọng là thói quen sử dụng dịch vụ công của người dân, đặc biệt là người cao tuổi, nhóm ít có khả năng tiếp cận công nghệ mới. Việc thay đổi hành vi tiêu dùng đòi hỏi thời gian, truyền thông hiệu quả và hỗ trợ chuyển đổi thói quen.
Song hành, là vấn đề tái cấu trúc nguồn lực lao động. Bởi theo số liệu thống kê, Hà Nội hiện có khoảng 2.000 xe buýt, mỗi xe có từ 1 đến 2 nhân viên phục vụ bán vé. Nếu hệ thống vé điện tử được triển khai đại trà, khoảng 4.000 lao động sẽ không còn công việc cũ.
Nếu triển khai hệ thống vé điện tử đại trà, dự kiến có khoảng 4.000 nhân viên bán vé trên xe buýt có thể bị ảnh hưởng. Ảnh minh hoạ.
“Bài toán đặt ra là tổ chức lại lao động, đào tạo lại và chuyển đổi việc làm cho lực lượng này. Đây là một phần không thể tách rời của chiến lược số hóa dịch vụ công”, ông Hải cho biết.
Từ góc nhìn vĩ mô, ông Hải cho rằng: “Nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, trong khi tài nguyên số lại ngày càng phong phú, tích lũy và sinh lời. Câu hỏi đặt ra là chúng ta sẽ sử dụng nguồn tài nguyên số đó như thế nào cho hiệu quả?”
Với hệ thống thẻ vé điện tử liên thông, không chỉ có dữ liệu di chuyển được ghi nhận và xử lý mà còn tạo ra cơ sở dữ liệu lớn để hoạch định chính sách giao thông, quy hoạch đô thị và thậm chí điều chỉnh hành vi xã hội. Dữ liệu này, nếu được sử dụng đúng cách, sẽ trở thành “mỏ vàng” cho sự phát triển bền vững, thay vì chỉ là công cụ quản lý hành chính đơn thuần.
Từ thử nghiệm tại một vài tuyến xe buýt và metro, Hà Nội đang hướng tới triển khai đồng bộ trên toàn địa bàn. Chính sách hiện hành tập trung vào ba nguyên tắc cốt lõi: văn minh – thuận tiện – minh bạch. Hệ thống thẻ vé thông minh không chỉ là công cụ thanh toán, mà còn là một phần trong kiến trúc thành phố thông minh – nơi dữ liệu, con người và công nghệ hội tụ để tạo ra giá trị mới cho đô thị.
Bài học từ Nhật Bản cho thấy việc liên thông vé điện tử không thể diễn ra trong một sớm một chiều mà đòi hỏi sự kiên định và phối hợp đồng bộ giữa các bên. Ông Satoru Horiuchi, Tổng Giám đốc Tokyo Metro Việt Nam, chia sẻ rằng các tuyến đường sắt tại Nhật Bản cũng từng hoạt động tách biệt.
Kể từ năm 2000, quốc gia này bắt đầu quá trình đồng bộ hóa hệ thống thẻ trả trước, và đến năm 2013, các loại thẻ IC như Suica, Pasmo đã được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc – không chỉ trong giao thông công cộng mà còn trong các hoạt động mua sắm và đời sống thường nhật.
Theo ông Horiuchi, để đạt được sự tích hợp này, Nhật Bản đã thành lập các nhóm chuyên trách như “cửa sổ Passnet” hay “tổ nghiên cứu Pasmo” nhằm xây dựng thống nhất về tiêu chuẩn kỹ thuật và phương thức triển khai.
Từ thực tiễn đó, ông đề xuất Việt Nam nên thành lập một cơ quan điều phối có đủ thẩm quyền để dẫn dắt quá trình chuẩn hóa, thiết lập các quy định chung về kỹ thuật, chính sách và chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị liên quan.
Hàng loạt tỉnh thành đồng loạt xóa bỏ quầy thu tiền điện trực tiếp, thúc đẩy thanh toán không tiền mặt
07:48, 15/05/2025
Thẻ nội địa tích hợp phương thức thanh toán không chạm qua thiết bị di động
07:20, 16/04/2025
Metro số 1 TP.HCM áp dụng thêm phương thức thanh toán vé từ ngày 14/3
18:39, 14/03/2025
Đọc thêm
Việc xây dựng bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn về đường sắt tốc độ cao chậm tiến độ
Việc xây dựng, ban hành, công bố bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, quy định về đường sắt tốc độ cao vẫn còn chậm, mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã có 4 thông báo ý kiến chỉ đạo về nội dung này…
Bố trí nhiều trạm dừng nghỉ, trạm tạm trên cao tốc Bắc Nam phía Đông phục vụ dịp lễ
Nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 02/9/2025, Bộ Xây dựng vừa cung cấp thông tin chi tiết về vị trí các trạm dừng nghỉ, trạm tạm, trạm cấp xăng dầu cũng như các nút giao ra vào tuyến cao tốc Bắc Nam phía Đông, trên các đoạn tuyến đã và sẽ được đưa vào khai thác dịp lễ.
Phó Thủ tướng giao hai bộ xem xét hỗ trợ vốn cho dự án hạ tầng tại Đồng Nai
Phó Thủ tướng giao các bộ, ngành xem xét đề xuất của tỉnh Đồng Nai về hỗ trợ vốn cho các dự án giao thông liên kết vùng và kinh phí sửa chữa, nâng cấp các tuyến quốc lộ xuống cấp…
Ba cảng biển Việt Nam lọt nhóm đầu cảng xử lý hàng
container lớn nhất thế giới
Ba cảng biển Việt Nam ở Hải Phòng, TP.HCM và Cái Mép lọt vào “Top” 50 cảng biển xử lý hàng container lớn nhất thế giới, theo bình chọn mới nhất của tạp chí DynaLiners Millionaires thuộc Công ty tư vấn vận tải biển DynaLiners có trụ sở tại Hà Lan...
Quảng Trị khai thác lợi thế logistics cho mục tiêu xây dựng khu thương mại tự do
Quảng Trị đang nỗ lực khai thác lợi thế logistics của mình với mục tiêu xây dựng khu thương mại tự do (FTZ), nhằm tạo động lực phát triển kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Với vị trí chiến lược nằm ở cửa ngõ hành lang kinh tế Đông - Tây, cùng với hệ thống cửa khẩu quốc tế và cảng biển nước sâu, Quảng Trị có tiềm năng lớn để phát triển thương mại xuyên biên giới và logistics.
Sáu giải pháp phát triển nhanh và bền vững ngành năng lượng
Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển năng lượng xanh, sạch nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Ông Nguyễn Ngọc Trung chia sẻ với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về sáu giải pháp để phát triển nhanh và bền vững ngành năng lượng nói chung và các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới nói riêng…
Nhân lực là “chìa khóa” phát triển điện hạt nhân thành công và hiệu quả
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nhấn mạnh vấn đề quan trọng nhất khi phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam là nguồn nhân lực, xây dựng năng lực, đào tạo nhân lực giỏi để tham gia vào triển khai, vận hành dự án...
Phát triển năng lượng tái tạo, xanh, sạch: Nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Quốc hội đã chốt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế 8% cho năm 2025 và tăng trưởng hai chữ số cho giai đoạn 2026 – 2030. Để đạt được mục tiêu này, một trong những nguồn lực có tính nền tảng và huyết mạch chính là điện năng và các nguồn năng lượng xanh, sạch…
Nhà đầu tư điện gió ngoài khơi tại Việt Nam vẫn đang ‘mò mẫm trong bóng tối’
Trả lời VnEconomy bên lề Diễn đàn năng lượng xanh Việt Nam 2025, đại diện doanh nghiệp đầu tư năng lượng tái tạo nhận định rằng Chính phủ cần nhanh chóng ban hành các thủ tục và quy trình pháp lý nếu muốn nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào các dự án điện gió ngoài khơi của Việt Nam...
Tìm lộ trình hợp lý nhất cho năng lượng xanh tại Việt Nam
Chiều 31/3, tại Hà Nội, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam chủ trì, phối hợp với Tạp chí Kinh tế Việt Nam tổ chức Diễn đàn Năng lượng Việt Nam 2025 với chủ đề: “Năng lượng xanh, sạch kiến tạo kỷ nguyên kinh tế mới - Giải pháp thúc đẩy phát triển nhanh các nguồn năng lượng mới”...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: