Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/12, trong tháng 11/2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 77,06 tỷ USD, giảm 5,4% so với tháng trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 839,75 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 16,1%; nhập khẩu tăng 18,4%.
Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2025 đạt 39,07 tỷ USD, giảm 7,1% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,23 tỷ USD, giảm 4,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 30,84 tỷ USD, giảm 7,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2025 tăng 15,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 17,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 28,8%.
Tính chung 11 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 430,14 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 102,41 tỷ USD, giảm 1,7%, chiếm 23,8% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 327,73 tỷ USD, tăng 23,1%, chiếm 76,2%.
Trong 11 tháng năm 2025 có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,3%).
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 11 tháng năm 2025, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 381,72 tỷ USD, chiếm 88,7%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 35,58 tỷ USD, chiếm 8,3%; nhóm hàng thủy sản đạt 10,32 tỷ USD, chiếm 2,4%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,52 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Từ chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2025 đạt 37,98 tỷ USD, giảm 3,7% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 11,34 tỷ USD, giảm 0,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 26,64 tỷ USD, giảm 5,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười Một tăng 16,0%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 8,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 31,2%.
Tính chung 11 tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 409,61 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 128,4 tỷ USD, tăng 1,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 281,21 tỷ USD, tăng 28,0%.
Trong 11 tháng năm 2025 có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,9% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 6 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 57,7%).
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 11 tháng năm 2025, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 383,96 tỷ USD, chiếm 93,7%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 52,7%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 41,0%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 25,65 tỷ USD, chiếm 6,3%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2025, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 138,6 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 167,5 tỷ USD.
Trong 11 tháng năm 2025, xuất siêu sang Mỹ đạt 121,6 tỷ USD tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 35,6 tỷ USD, tăng 10,4%; xuất siêu sang Nhật Bản 2,0 tỷ USD, giảm 29,7%; nhập siêu từ Trung Quốc 104,3 tỷ USD, tăng 38,1%; nhập siêu từ Hàn Quốc 28,3 tỷ USD, tăng 1,9%; nhập siêu từ ASEAN 12,4 tỷ USD, tăng 46,3%.
Từ những số liệu trên, cán cân thương mại hàng hóa tháng 11/2025 xuất siêu 1,09 tỷ USD. Tính chung 11 tháng năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,53 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,38 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,99 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 46,52 tỷ USD.
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “tấm vé thông hành” khẳng định uy tín sản phẩm, mà còn là công cụ nâng cao giá trị đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế pháp lý này thành giá trị thương mại bền vững, các địa phương và doanh nghiệp cần vượt qua nhiều điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thị trường...
Việc xây dựng Nghị quyết về FTZ và ILZ tại TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng tạo thêm động lực cho thương mại, logistics và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cơ chế mới phải thực sự khác biệt, linh hoạt và có khả năng triển khai nhanh, nếu không FTZ khó tạo ra giá trị mới...
Xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng trước bài toán nâng giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Với lợi thế lớn về Robusta, việc kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu, phân hóa sản phẩm và đổi mới phương thức thu mua được xem là những yêu cầu then chốt để nâng giá trị hạt cà phê...
Thương mại điện tử đang giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu, trong khi AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số có thể làm thay đổi cách xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, công nghệ không xóa bỏ những rào cản căn bản của xuất khẩu. Để hàng Việt đi xa, cần kết nối dữ liệu thị trường, tiêu chuẩn, logistics, nền tảng số và nhà mua hàng thành một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp...
Xuất khẩu phân bón Việt Nam bứt phá mạnh mẽ cả về lượng lẫn giá trị, trong khi nhập khẩu giảm sâu, khẳng định năng lực sản xuất nội địa được nâng cao. Tận dụng tốt nhu cầu quốc tế, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như urê, NPK, DAP để mở rộng thị trường và gia tăng kim ngạch...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Theo kết quả chấm điểm về giải ngân vốn đầu tư công tháng 8/2026 do Bộ Tài chính vừa công bố, Thanh Hóa nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tốc độ giải ngân đầu tư công rất tốt, xếp thứ 17 trong số 34 tỉnh, thành phố về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; xếp thứ 12 về giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026. Kết quả này tiếp tục cho thấy sự chuyển động tích cực trong tổ chức thực hiện, đồng thời tạo thêm động lực để tỉnh khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đưa nguồn vốn đầu tư thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.