Tại diễn đàn “Doanh nghiệp Nhà nước nâng cao năng lực cạnh tranh và vai trò dẫn dắt” ngày 20/11/2025, bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng, Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhà nước (Bộ Tài chính), đã đưa ra bức tranh rõ nét về “sức khoẻ” của doanh nghiệp nhà nước hiện nay.
Bà Thuỷ cho rằng trong các năm qua, doanh nghiệp nhà nước liên tục được cơ cấu lại, giảm mạnh về số lượng. Theo số liệu tổng hợp từ các Bộ, ngành, địa phương, đến nay, cả nước có 866 doanh nghiệp có vốn nhà nước do 49 Bộ, ngành, địa phương thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Phân nhóm theo cơ quan đại diện chủ sở hữu, gồm: 214 doanh nghiệp do 15 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là cơ quan đại diện chủ sở hữu. 652 doanh nghiệp do 34 UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trương ương là cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Phân nhóm theo tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ, gồm: 500 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (151 doanh nghiệp thuộc 13 Bộ, ngành và 349 doanh nghiệp thuộc 34 địa phương); 203 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đến dưới 100% vốn điều lệ (36 doanh nghiệp thuộc 10 Bộ, ngành và 167 doanh nghiệp thuộc 32 địa phương); 163 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống (27 doanh nghiệp thuộc 09 Bộ, ngành và 136 doanh nghiệp thuộc 32 địa phương).
Về kết quả hoạt động, tính đến cuối năm 2024, các doanh nghiệp có vốn nhà nước (không tính 4 ngân hàng thương mại nhà nước) đang quản lý tổng tài sản có giá trị trên 4,3 triệu tỷ đồng, tổng vốn chủ sở hữu là trên 1,9 triệu tỷ đồng, đóng góp cho ngân sách nhà nước trên 400 ngàn tỷ đồng/năm.
Tổng tài sản là 4.336.285 tỷ đồng (doanh nghiệp Trung ương là 3.804.009 tỷ đồng, chiếm 87,7% tổng tài sản; doanh nghiệp địa phương là 532.276 tỷ đồng, chiếm 12,3% tổng tài sản).
Vốn chủ sở hữu là 1.948.977 tỷ đồng (doanh nghiệp Trung ương là 1.632.442 tỷ đồng, chiếm 83,8% vốn chủ sở hữu; doanh nghiệp địa phương là 316.535 tỷ đồng, chiếm 16,2% vốn chủ sở hữu).
Tổng doanh thu khu vực doanh nghiệp nhà nước là 2.930.753 tỷ đồng (trong đó, doanh nghiệp Trung ương là 2.616.736 tỷ đồng, chiếm 89,3% tổng doanh thu; doanh nghiệp địa phương là 374.017 tỷ đồng, chiếm 10,7% tổng doanh thu).
Lợi nhuận trước thuế đạt 256.243 tỷ đồng (doanh nghiệp Trung ương đạt 213.732 tỷ đồng chiếm 83,4% lãi phát sinh trước thuế; doanh nghiệp địa phương đạt 42.511 tỷ đồng chiếm 16,6% lãi phát sinh trước thuế). Tỷ suất lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu bình quân chung là 13% (năm 2023 là 12%); tỷ suất lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản bình quân chung là 6% (năm 2023 là 6%).
Song 70/815 doanh nghiệp (chiếm 9% tổng số doanh nghiệp) có lỗ phát sinh trong năm 2024 với tổng số lỗ phát sinh là 2.667 tỷ đồng. 164/815 doanh nghiệp (chiếm 20% tổng số doanh nghiệp) còn lỗ lũy kế, với tổng số lỗ lũy kế là 106.078 tỷ đồng.
Về tổng thể, theo số liệu của Cục Thống kê, các doanh nghiệp nhà nước có quy mô tổng tài sản và nguồn vốn chủ sở hữu thấp hơn so với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (trung bình giai đoạn 2017-2023 chỉ đạt khoảng 22,6% tổng tài sản, 15,2% tổng nguồn vốn của toàn bộ doanh nghiệp) nhưng nộp ngân sách trung bình đạt 34,2% tổng thu ngân sách.
Hiệu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của doanh nghiệp nhà nước xu hướng tăng dần từ năm 2017 chỉ đạt 11%, đến năm 2024 đạt 13%, cao nhất khu vực doanh nghiệp. Hiệu suất sinh lời trên tài sản (ROA) của doanh nghiệp nhà nước năm 2024 đạt mức 6%, cao hơn khối doanh nghiệp FDI (khoảng 4%) và khối doanh nghiệp tư nhân (khoảng 1%). Quy mô và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước được đánh giá tốt, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng doanh thu cao hơn tốc độ tăng trưởng tài sản và vốn chủ sở hữu.
Bên cạnh các kết quả đạt được, bà Thuỷ cho biết doanh nghiệp nhà nước đang đối mặt với nhiều hạn chế, thách thức. Đó là, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong dẫn dắt, tạo động lực cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển và thúc đẩy liên kết, hình thành chuỗi giá trị gia tăng còn hạn chế.
Nguồn lực về vốn, tài sản của doanh nghiệp nhà nước chưa được khơi thông do quy định về phân công, phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư chưa trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp đối với các quyết định đầu tư lớn, các quyết định mang tính rủi ro. Đặc biệt, tính chủ động, cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế. Thủ tục ra quyết định của khu vực doanh nghiệp này còn phức tạp dẫn đến mất cơ hội đầu tư, kinh doanh.
Mặt khác, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chủ yếu vẫn mang tính đơn lẻ, chưa có sự phối hợp, liên kết, tận dụng thế mạnh trong các lĩnh vực, chưa tham gia sâu, rộng hội nhập kinh tế quốc tế, chưa chủ động tiên phong trong việc hình thành chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, công tác đổi mới quản trị doanh nghiệp còn chậm, chưa tiệm cận với các nguyên tắc và thông lệ quốc tế. Số lượng doanh nghiệp nhà nước ứng dụng quản trị trên nền tảng số, thực hiện quản trị doanh nghiệp tiệm cận với các nguyên tắc quản trị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) còn hạn chế.
Tại diễn đàn, các nhận định cho rằng trong bối cảnh mục tiêu đặt ra trong giai đoạn tới là trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030; trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; duy trì tốc độ tăng trưởng “2 con số” trong giai đoạn 2026 – 2030… đòi hỏi phải có những cải cách và biện pháp thúc đẩy tăng trưởng đột phá đối với doanh nghiệp nhà nước. Cơ cấu lại khu vực này theo hướng tinh gọn, hiệu quả để doanh nghiệp nhà nước thực sự phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt trong các ngành lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế.
Ông Chử Đức Hoàng, Chánh văn phòng Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), nhấn mạnh đổi mới công nghệ là điều kiện sống còn của doanh nghiệp nhà nước trong kỷ nguyên số. Doanh nghiệp nhà nước cần chủ động dẫn dắt sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Để nâng cao năng lực cạnh, hoàn thành sứ mệnh lớn lao của mình, ông Đặng Huy Đông, Chủ tịch Viện Quy hoạch và Phát triển, cho rằng doanh nghiệp nhà nước cần một môi trường kinh doanh lành mạnh, khung khổ pháp lý minh bạch, dễ làm, dễ hiểu, không rủi ro công vụ.
Doanh nghiệp nhà nước phải được hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu; tự chủ, tự chịu trách nhiệm; cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Cùng với đó, doanh nghiệp nhà nước cần tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, lĩnh vực đóng vai trò dẫn dắt, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế.
Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn sớm hình thành Trung tâm Nghiên cứu – Phát triển và Chuyển đổi kép (số và xanh) phục vụ việc nâng cao năng lực khoa học – công nghệ, đổi mới – sáng tạo và sức cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam sẽ ưu tiên hỗ trợ những người lao động có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp, bị ảnh hưởng bởi thiên tai, mắc bệnh hiểm nghèo, bị giảm hoặc mất việc làm, mức từ 1 - 2,5 triệu đồng tùy từng đối tượng cụ thể...
Tại đêm Gala Better Choice Awards 2026, ông Vương Vũ Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty cổ phần VCCorp, kể lại hành trình năm năm của giải thưởng, từ Car Choice Awards 2022 đến một giải thưởng nằm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Điểm xuyên suốt trong chia sẻ của ông: Thông số kỹ thuật hay doanh số không thể nói thay người dùng về giá trị của một sản phẩm.
Trả lời câu hỏi của phóng viên VnEconomy tại buổi họp báo thường kỳ (6/10), đại diện Bộ Tài chính cho rằng: Hộ kinh doanh có doanh thu tỷ đồng, muốn hưởng cơ chế khấu trừ thuế và hỗ trợ khác như doanh nghiệp thì phải chuyển đổi sang doanh nghiệp...
Mùa thứ 12 của “Run for the Heart - Chạy vì trái tim 2026”, chính thức quay trở lại với thông điệp “Triệu nhịp đập từ vạn bước chân”, tiếp nối hành trình hồi sinh những trái tim trẻ thơ do Gamuda Land Việt Nam đồng hành cùng Nhịp tim Việt Nam và vết sẹo cuộc đời.
Dù vào mùa nước đổ hay mùa lúa chín, cảnh quan ruộng bậc thang đều có những sắc thái riêng, gắn với nghề truyền thống, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các sản phẩm theo mùa thay vì chỉ khai thác một thời điểm cố định trong năm...
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.