
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Sáu, 23/01/2026
Đào Vũ
03/04/2021, 07:53
Đến cuối năm 2023, các tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng nợ cơ cấu đầy đủ 100%
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 03/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2020 quy định về việc tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.
Theo thông tư này, các tổ chức tín dụng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khoản nợ phát sinh trước ngày 10/6/2020 từ hoạt động cho vay, thuê tài chính và phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến 31/12/2021.
Đồng thời, tổ chức tín dụng đánh giá khách hàng không có khả năng trả nợ lãi đúng hạn theo hợp đồng, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch bệnh. Bổ sung thêm điều kiện khách hàng có đề nghị được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và tổ chức tín dụng đánh giá khách hàng có khả năng trả nợ đẩy đủ theo thời hạn được cơ cấu.
Bên cạnh đó, thông tư cũng bổ sung, sửa đổi điều khoản về việc miễn giảm lãi, phí. Cụ thể, tổ chức tín dụng quyết định việc miễn giảm lãi phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến 31/12/2021 thay cho mốc 3 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid-19 như thông tư ban đầu.
Việc thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng và việc thực hiện miễn, giảm lãi phí đều sẽ kéo dài đến ngày 31/12/2021.
Tổ chức tín dụng được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của tổ chức tín dụng tại thời điểm gần nhất trước ngày 23/1/2020 đối với số dư nợ của khoản nợ phát sinh trước ngày 23/1/2020 thuộc diện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, bao gồm cả phần dư nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và điều chỉnh nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 29/3/2020.
Ngoài ra ngân hàng cũng được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định với số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi của khoản nợ phát sinh từ 23/1/2020 đến trước ngày 10/6/2020 theo quy định của thông tư.
Đối với số dư nợ sau khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ còn trong hạn theo thời hạn cơ cấu lại, tổ chức tín dụng không phải áp dụng nguyên tắc điều chỉnh, phân loại lại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Đối với số dư nợ sau khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ bị quá hạn theo thời hạn cơ cấu lại mà không được tổ chức tín dụng tiếp tục cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định tại thông tư này, tổ chức tín dụng phải thực hiện phân loại nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Đối với số lãi phải thu của số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1) theo quy định tại thông tư, từ ngày được cơ cấu lại, tổ chức tín dụng không hạch toán thu nhập mà theo dõi ngoại bảng để đôn đốc thu; thực hiện hạch toán vào thu nhập khi thu được theo quy định của pháp luật về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng.
Kể từ 1/1/2024, các tổ chức tín dụng căn cứ quy định của Ngân hàng Nhà nước để phân loại đối với toàn bộ dư nợ, cam kết ngoại bảng của khách hàng, bao gồm cả số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ theo quy định tại Thông tư.
Đáng chú ý, về việc giữ nguyên nhóm nợ và phân loại nợ được bổ sung thêm quy định trích lập dự phòng rủi ro, tổ chức tín dụng phải thực hiện trích lập số tiền dự phòng cụ thể đối với toàn bộ dư nợ của khách hàng theo kết quả phân loại nợ đối với phần nợ được giữ nguyên nhóm nợ và kết quả phân loại nợ đối với dư nợ còn lại của khách hàng.
Đồng thời, các tổ chức tín dụng sẽ phải xác định số tiền dự phòng phải trích đối với toàn bộ dư nợ của khách hàng theo kết quả phân loại nợ nhưng không áp dụng quy định giữ nguyên nhóm nợ; từ đó, xác định số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung.
Trường hợp số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung dương, đến cuối năm 2021, các tổ chức tín dụng phải trích được tối thiểu 30% số tiền phải trích bổ sung. Đến cuối năm 2022 phải trích tối thiểu 60% và đến cuối năm 2023 phải trích đầy đủ 100%.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 17/5/2021.
Kiều hối về TP. Hồ Chí Minh năm 2025 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định khi đạt hơn 10,34 tỷ USD. Trong đó, khu vực châu Á vẫn là nguồn chủ lực, đóng góp gần một nửa tổng lượng kiều hối chuyển về Thành phố…
Tín dụng được dự báo tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2026 khi Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu mở rộng dư địa 2,79 triệu tỷ đồng với mức tăng 15% so với 2025. Các chuyên gia điểm tên 4 động lực của tín dụng năm tới gồm: bất động sản, đầu tư công bứt phá, tiêu dùng phục hồi và mặt bằng lãi suất ở ngưỡng hỗ trợ nền kinh tế...
Lãi suất liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm giảm mạnh xuống dưới 3%/năm, trong khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng trở lại, lên 6,8%/năm. Diễn biến này cho thấy thanh khoản ngắn hạn có dấu hiệu cải thiện nhưng nhu cầu vốn ở các kỳ hạn dài hơn vẫn còn cao...
Chuỗi thâm hụt 5 quý liên tiếp của cán cân thanh toán tổng thể (từ quý 1/2024 đến quý 1/2025) đã khiến tỷ giá chịu áp lực lớn và kéo dài trong suốt năm 2025. Tình hình bắt đầu cải thiện khi cán cân thanh toán tổng thể thặng dư trở lại từ quý 2/2025, tạo dư địa ổn định hơn cho tỷ giá năm 2026, đặc biệt trong bối cảnh Fed chuyển sang xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ. Dù vậy, các điểm yếu cố hữu như nhập siêu dịch vụ, thâm hụt thu nhập đầu tư và dòng vốn chảy ra các kênh phi chính thức vẫn là rủi ro cần theo dõi...
Sức khỏe
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: