Mới đây, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Nguyễn Văn Đệ đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương và đơn vị liên quan triển khai thực hiện Đề án số 08-ĐA/TU và Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 23/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026–2030 và những năm tiếp theo.
Theo chỉ đạo, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An có trách nhiệm rà soát, xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án và dự án cụ thể nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn và hoàn thành đầy đủ các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra. Quá trình thực hiện được yêu cầu gắn với công tác theo dõi, đánh giá thường xuyên; định kỳ sơ kết, tổng kết và tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh theo đúng quy định.
Nghị quyết số 05-NQ/TU và Đề án số 08-ĐA/TU xác định lâm nghiệp không chỉ là lĩnh vực giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái mà còn là ngành kinh tế có tiềm năng tăng trưởng lớn nếu được tổ chức sản xuất bài bản, gắn với chế biến sâu và thị trường tiêu thụ ổn định.
Theo đó, đến năm 2030, Nghệ An đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt tối thiểu 8%/năm; giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt từ 400 đến 500 triệu USD/năm. Tỷ lệ che phủ rừng được duy trì ổn định ở mức 58%.
Diện tích trồng rừng hằng năm phấn đấu đạt tối thiểu 22.000 ha, trong đó ưu tiên trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng trồng theo hướng gỗ lớn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Cùng với đó, tỉnh chú trọng phát triển lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu và cây đặc sản dưới tán rừng với diện tích khoảng 9.000 ha, tạo thêm nguồn thu và sinh kế bền vững cho người dân, nhất là khu vực miền núi.
Một chỉ tiêu quan trọng khác là diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt trên 70.000 ha, đáp ứng yêu cầu của thị trường gỗ hợp pháp trong nước và quốc tế. Năng suất rừng trồng bình quân được đặt mục tiêu đạt từ 25 đến 30 m3/ha/năm; sản lượng khai thác gỗ rừng trồng bình quân đạt từ 2,2 đến 2,5 triệu m3/năm. Giá trị rừng trồng nguyên liệu được kỳ vọng tăng bình quân từ 1,5 đến 2 lần trên một đơn vị diện tích so với giai đoạn 2021–2025.
Song song với các mục tiêu về tăng trưởng và sản xuất, Nghệ An đặt trọng tâm vào việc hoàn thiện công tác quản lý, tổ chức lại không gian phát triển lâm nghiệp và đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng. Tỉnh phấn đấu cơ bản hoàn thành việc giao đất gắn với giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng theo đúng quy hoạch; bảo đảm 100% diện tích rừng có chủ thể quản lý rõ ràng.
Các hạng mục hạ tầng trong Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ sẽ được đầu tư hoàn thiện, đồng thời đưa Trung tâm sản xuất giống cây lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào hoạt động ổn định, hiệu quả. Đây được xem là nền tảng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giống, giảm chi phí sản xuất và tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm lâm nghiệp của tỉnh.
Bên cạnh đó, Nghệ An tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và hệ thống công nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; từng bước hiện đại hóa công tác theo dõi diễn biến rừng và quản lý tài nguyên rừng.
Định hướng đến năm 2045, tỉnh hình thành các vùng nguyên liệu tập trung với quy mô lớn, cơ cấu cây trồng hợp lý; ưu tiên phát triển rừng trồng gỗ lớn, cây bản địa và rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Kinh tế dưới tán rừng được phát triển theo hướng đa giá trị, kết hợp trồng dược liệu, khai thác lâm sản ngoài gỗ, phát triển du lịch sinh thái, tín chỉ các-bon và các dịch vụ môi trường rừng khác.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đề ra bảy nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trong đó, Nghệ An sẽ rà soát, xây dựng phương án phát triển vùng nguyên liệu gỗ tập trung khoảng 170.000–180.000 ha với cơ cấu cây trồng hợp lý; ưu tiên trồng rừng gỗ lớn, cây bản địa và chuyển hóa rừng trồng, nâng cao năng suất đạt từ 25 đến 30 m3/ha/năm.
Tỉnh cũng bảo đảm nguồn lực để hỗ trợ hình thành khoảng 70.000 ha rừng trồng chất lượng cao được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, gắn với liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và chế biến. Cùng với thu hút đầu tư vào công nghiệp chế biến sâu và công nghệ hiện đại, Nghệ An chú trọng phát triển hợp tác xã, tổ nhóm cộng đồng và các mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Theo định hướng, khoảng 80% xã có diện tích rừng trồng từ 1.000 ha trở lên sẽ có hợp tác xã lâm nghiệp, qua đó gắn phát triển kinh tế rừng với xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa và thúc đẩy du lịch cộng đồng.
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) công bố ngày 6/10 của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), kinh tế khu vực này dự kiến tăng trưởng 4,5% trong năm 2026. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng khi được WB nâng dự báo tăng trưởng lên mức 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó…
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt mức ấn tượng (9,01%) trong bối cảnh toàn cầu còn nhiều biến động. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng trên 10% cả năm do Quốc hội đề ra, nhiệm vụ đặt ra cho quý 4/2026 là vô cùng lớn với mục tiêu tăng trưởng lên tới 12,5%. Cùng với đó là những thách thức không nhỏ từ lạm phát, tỷ giá và trạng thái nhập siêu của cán cân thương mại.
Tăng trưởng hai con số không đơn thuần là câu chuyện về tốc độ, mà là bản kiểm chứng cho chất lượng phát triển. Bền vững không phải là "điểm dừng" xếp sau tăng trưởng, mà phải được thẩm thấu và định hình ngay trong cách chúng ta kiến tạo quy mô nền kinh tế hôm nay…
Sau hơn 7 năm thực thi, Hiệp định CPTPP đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, một sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam không đồng nghĩa với việc nghiễm nhiên được hưởng ưu đãi thuế quan, trừ khi đáp ứng đúng các quy tắc xuất xứ của Hiệp định...
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Chỉ với vài thao tác đơn giản ngay trên ứng dụng ngân hàng quen thuộc, du khách quốc tế đã có thể dễ dàng thanh toán cho các giao dịch mua sắm tại Việt Nam. Giải pháp thanh toán quốc tế VietQR Global hiện đang được triển khai rộng rãi tại nhiều trung tâm du lịch và khu mua sắm lớn trên cả nước.