Chỉ sau vài năm triển khai, Nghệ An đã ghi nhận hơn 740 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có 3 sản phẩm đạt 5 sao, 45 sản phẩm đạt 4 sao và 695 sản phẩm đạt 3 sao. Thành công này đã đưa Nghệ An vào nhóm dẫn đầu cả nước về số lượng sản phẩm OCOP được công nhận, khẳng định bước tiến vững chắc trong việc nâng tầm nông sản và sản phẩm bản địa.
Hiện tại, toàn tỉnh có 449 chủ thể tham gia chương trình, bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, hợp tác xã và tổ hợp tác chiếm tới 43% với 194 chủ thể, cho thấy sự tham gia mạnh mẽ của khu vực kinh tế tập thể. Hơn 65% sản phẩm OCOP Nghệ An đã hoàn thiện bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc và đăng ký nhãn hiệu, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường, đồng thời thể hiện tính chuyên nghiệp trong xây dựng sản phẩm.
Nghệ An sở hữu lợi thế lớn với diện tích rộng, địa hình đa dạng từ đồng bằng ven biển đến miền núi cao. Truyền thống sản xuất lâu đời, nguồn tài nguyên bản địa phong phú và văn hóa ẩm thực đặc sắc đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm OCOP mang đậm bản sắc vùng miền. Sản phẩm OCOP Nghệ An rất đa dạng, từ thực phẩm chế biến, đồ uống, thảo dược đến thủ công mỹ nghệ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường.
Theo ngành nông nghiệp tỉnh Nghệ An, chương trình OCOP không chỉ dừng lại ở việc công nhận sản phẩm mà còn tạo động lực lớn thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Nhiều mô hình đã cho thấy khả năng ứng dụng khoa học công nghệ trong chế biến sâu, bảo quản, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Hàng ngàn lao động địa phương đã có thêm việc làm ổn định, thu nhập được cải thiện rõ rệt.
Ông Lê Văn Lương, Chi Cục trưởng Chi cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn Nghệ An, cho biết: “Chúng tôi xác định rõ OCOP không chỉ là sản phẩm, mà là hàng hoá gắn với hệ sinh thái sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu dùng. Định hướng của tỉnh từ năm 2023 đến nay là đẩy mạnh sản xuất sạch, có chứng nhận VietGAP, hữu cơ, GlobalGAP cho nguyên liệu đầu vào, kết hợp với tiêu chuẩn an toàn thực phẩm trong chế biến, đóng gói và vận chuyển”.
Ngoài yếu tố kinh tế, OCOP còn gắn kết sản phẩm với giá trị văn hóa bản địa và du lịch cộng đồng, tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Du khách khi đến Nghệ An không chỉ trải nghiệm cảnh quan, di tích mà còn có cơ hội thưởng thức và mua về những sản phẩm đặc trưng như trà sen Quê Bác, giò bê Nam Đàn hay cam bù Kim Nhan. Điều này góp phần thúc đẩy phát triển tổng thể khu vực nông thôn, gắn sản phẩm địa phương với du lịch và dịch vụ.
Ngành nông nghiệp đặc biệt chú trọng phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị. Tỉnh khuyến khích các chủ thể OCOP xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, liên kết với hợp tác xã dịch vụ và ký kết hợp đồng bao tiêu với các doanh nghiệp thương mại, sàn thương mại điện tử. Đây được xem là hướng đi tất yếu để đảm bảo tính bền vững và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Hiện Nghệ An cũng đang xúc tiến xây dựng bản đồ vùng sản phẩm OCOP nhằm quy hoạch hợp lý và nâng cao hiệu quả quản lý.
Để thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế, Nghệ An đã đề ra nhiều giải pháp trọng tâm. Tỉnh tập trung đề xuất và bổ sung chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm nông sản chủ lực và sản phẩm OCOP, chú trọng phát triển vùng nguyên liệu, đổi mới công nghệ, xây dựng chuỗi giá trị, hỗ trợ cơ sở hạ tầng sản xuất, quản lý chất lượng, đào tạo nghề và nâng cao năng lực cộng đồng. Đồng thời, tỉnh cũng đẩy mạnh hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc sản, chủ lực.
Ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại được coi là đòn bẩy quan trọng. Tỉnh khuyến khích các chủ thể tham gia thương mại điện tử, quảng bá sản phẩm trên các nền tảng trực tuyến, mở rộng kênh tiêu thụ hiện đại. Công tác giám sát sau công nhận sản phẩm cũng được tăng cường nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giữ gìn uy tín và thương hiệu OCOP Nghệ An.
Nhiều sản phẩm OCOP của Nghệ An đã khẳng định được vị thế trên thị trường, tiêu biểu như các sản phẩm dược liệu của Công ty cổ phần Dược liệu Pù Mát, hay tảo xoắn Spirulina ở Quỳnh Anh sản xuất khép kín theo công nghệ sinh học hiện đại, đạt chuẩn an toàn thực phẩm và có tiềm năng xuất khẩu. Sản phẩm nước mắm Vạn Phần (Diễn Châu) cũng gây ấn tượng khi xây dựng vùng nguyên liệu cá cơm sạch, chế biến theo phương pháp truyền thống kết hợp công nghệ hiện đại.
Với những định hướng phát triển rõ ràng và quyết tâm cao, Nghệ An đang từng bước khẳng định vị thế của mình trong việc phát triển sản phẩm OCOP, không chỉ nâng cao giá trị nông sản mà còn góp phần phát triển kinh tế bền vững cho địa phương. Sự kết hợp giữa sản phẩm OCOP với du lịch và văn hóa bản địa sẽ tạo ra những giá trị gia tăng, mang lại lợi ích cho cả cộng đồng và nền kinh tế.
Thỏa thuận giữa Đức và Pháp hướng tới bảo vệ ngành công nghiệp ô tô châu Âu trước sức ép cạnh tranh từ Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy đầu tư, nghiên cứu và sản xuất xe điện (EV). Tuy nhiên, đề xuất nới lỏng mục tiêu giảm phát thải từ năm 2035 cũng đặt ra bài toán cân bằng giữa sức cạnh tranh công nghiệp và tham vọng khí hậu của khu vực…
Quan sát diễn biến mạnh lên, El Nino đã có những tác động đến thời tiết Việt Nam với nền nhiệt cao hơn so trung bình nhiều năm. Đáng chú ý trong nửa đầu tháng 10/2026, đã ghi nhận 59 trạm khí tượng có nhiệt độ cao nhất ngày đạt và vượt giá trị lịch sử cùng thời kỳ...
Rosatom dự kiến xây dựng thêm 4 nhà máy điện hạt nhân nổi tại Nga, sau khi nhà máy Akademik Lomonosov đi vào vận hành tại vùng Viễn Đông. Cùng với việc phát triển các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) thế hệ mới, tập đoàn này đặt mục tiêu đưa công nghệ điện hạt nhân nổi ra thị trường quốc tế từ năm 2030…
TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu hình thành nền kinh tế tuần hoàn, trong đó chất thải và phụ phẩm không chỉ là đối tượng phải xử lý mà còn là nguồn đầu vào cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở ra khả năng biến phụ phẩm, vật liệu thu hồi thành đầu vào sản xuất và hình thành những chuỗi giá trị mới...
NEU Battery Materials đưa vào hoạt động nhà máy có công suất xử lý 1.300 tấn vật liệu pin mỗi năm, hướng tới thương mại hóa công nghệ thu hồi lithium và mở rộng sang châu Âu, Mỹ…
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.