Kinh tế xanh, xét về bản chất, là mô hình phát triển hướng đến giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, đồng thời vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng sống. Đối với TP.Hồ Chí Minh, bài toán này không chỉ mang ý nghĩa môi trường, mà còn liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế đô thị.
ĐỊNH HÌNH CHIẾN LƯỢC TỪ CAM KẾT CHÍNH SÁCH ĐẾN HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ
Những năm gần đây, TP.Hồ Chí Minh đã liên tục đưa nội dung tăng trưởng xanh và phát triển bền vững vào các chiến lược, chương trình phát triển kinh tế xã hội trung và dài hạn. Thành phố đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo, phát triển kinh tế tuần hoàn và từng bước hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, phù hợp với cam kết của quốc gia tại Hội nghị COP26.
Theo ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn không chỉ là yêu cầu môi trường mà còn là hướng đi tất yếu để Thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng trong điều kiện quỹ đất, tài nguyên và hạ tầng ngày càng chịu áp lực lớn. Ông cho rằng chuyển đổi xanh sẽ tạo ra dư địa mới cho tăng trưởng thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn không chỉ là yêu cầu môi trường mà còn là hướng đi tất yếu để Thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng trong điều kiện quỹ đất, tài nguyên và hạ tầng ngày càng chịu áp lực lớn.
Trên thực tế, TP.Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ thân thiện môi trường, đặc biệt trong các khu công nghiệp và khu chế xuất. Một số doanh nghiệp xuất khẩu đã chủ động chuyển đổi dây chuyền sản xuất, áp dụng tiêu chuẩn môi trường quốc tế để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường Châu Âu và Bắc Mỹ.
PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế tuần hoàn nhận định rằng TP.Hồ Chí Minh có lợi thế lớn về quy mô thị trường, năng lực đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực để trở thành trung tâm kinh tế xanh của cả nước. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý nếu chỉ dừng ở các tuyên bố chiến lược mà thiếu cơ chế thực thi đủ mạnh, quá trình chuyển đổi xanh sẽ diễn ra chậm và thiếu tính lan tỏa.
Một điểm đáng chú ý là sau khi mở rộng không gian phát triển với việc sáp nhập Bình Dương cũ và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ vào TP.Hồ Chí Minh, Thành phố có thêm dư địa để phát triển các khu công nghiệp sinh thái, logistics xanh và hạ tầng năng lượng sạch. Đây được xem là điều kiện thuận lợi hiếm có để tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững hơn.
CƠ HỘI DẪN DẮT VÀ NHỮNG ĐIỂM NGHẼN HIỆN HỮU TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI
Lợi thế lớn nhất của TP.Hồ Chí Minh trong tiến trình phát triển kinh tế xanh nằm ở vị thế đầu tàu kinh tế và khả năng thu hút nguồn lực xã hội. Thành phố được Chính phủ xác định là một trong những địa phương phù hợp để thí điểm các cơ chế, chính sách mới liên quan đến tăng trưởng xanh, tài chính xanh và đổi mới sáng tạo.
Điều này mở ra cơ hội để TP.Hồ Chí Minh không chỉ chuyển đổi cho riêng mình, mà còn đóng vai trò dẫn dắt xu hướng phát triển xanh của cả Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia, quá trình chuyển đổi xanh hiện vẫn đối mặt không ít điểm nghẽn. TS. Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TP.Hồ Chí Minh cho rằng thách thức lớn nhất nằm ở bài toán nguồn lực. Nhu cầu vốn cho chuyển đổi hạ tầng, giao thông, năng lượng và xử lý môi trường là rất lớn, vượt xa khả năng cân đối từ ngân sách Thành phố. Do đó, nếu không có cơ chế huy động vốn hiệu quả từ khu vực tư nhân và các nguồn tài chính xanh quốc tế, mục tiêu kinh tế xanh sẽ khó đạt được trong khung thời gian đề ra.
Kinh tế xanh tại TP.Hồ Chí Minh đang đứng trước một bài toán kép: vừa phải tăng tốc để không tụt lại trong xu thế toàn cầu, vừa phải giải quyết những điểm nghẽn nội tại về nguồn lực, hạ tầng và thể chế.
Ở góc độ quản lý, ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP.Hồ Chí Minh (HIDS) nhận định, nhiều chính sách liên quan đến chuyển đổi xanh hiện còn thiếu hướng dẫn cụ thể; đặc biệt là cơ chế hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi các doanh nghiệp lớn có điều kiện tiếp cận công nghệ và vốn, thì phần lớn doanh nghiệp quy mô nhỏ vẫn gặp khó khăn khi phải đối mặt với chi phí đầu tư ban đầu cao.
Giao thông đô thị tiếp tục là một trong những nguồn phát thải lớn nhất và cũng là điểm nghẽn dai dẳng của kinh tế xanh tại TP.Hồ Chí Minh. Dù đã đặt mục tiêu phát triển giao thông công cộng và thúc đẩy phương tiện sử dụng năng lượng sạch, tiến độ triển khai thực tế của Thành phố vẫn còn chậm so với nhu cầu. Các chuyên gia khuyến cáo, nếu không có bước đột phá trong phát triển giao thông xanh, nỗ lực giảm phát thải và cải thiện chất lượng môi trường đô thị sẽ khó đạt hiệu quả rõ rệt.
Bên cạnh đó, nhận thức và hành vi tiêu dùng xanh trong cộng đồng dân cư vẫn chưa đồng đều. Việc thay đổi thói quen sử dụng năng lượng, phương tiện cá nhân và sản phẩm nhựa dùng một lần đòi hỏi thời gian dài cùng các chính sách khuyến khích đủ mạnh.
Trong bối như vậy, kinh tế xanh tại TP.Hồ Chí Minh đang đứng trước một bài toán kép: vừa phải tăng tốc để không tụt lại trong xu thế toàn cầu, vừa phải giải quyết những điểm nghẽn nội tại về nguồn lực, hạ tầng và thể chế.
Cách Thành phố lựa chọn và thực thi lộ trình chuyển đổi trong giai đoạn tới sẽ quyết định vai trò dẫn dắt hay nguy cơ tụt nhịp của nền kinh tế đô thị lớn nhất cả nước.
Từ loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, Việt Nam đang bước sang giai đoạn giảm dần các chất có tác động lớn đến khí hậu, tăng cường quản lý các chất được kiểm soát trong toàn bộ vòng đời và thúc đẩy các giải pháp công nghệ bền vững hơn. Cùng với đó, hệ thống chính sách từng bước được hoàn thiện, vừa bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế, vừa định hướng thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh theo hướng xanh, bền vững...
Năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở ra một giai đoạn mới trong nỗ lực toàn cầu bảo vệ tầng ozone và ứng phó với biến đổi khí hậu. Với việc đưa các chất HFC- những khí nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí theo hướng có tác động thấp hơn tới khí hậu...
Việc quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời thúc đẩy làm mát bền vững, cần được đặt trong một bài toán tổng thể với cách tiếp cận mới và các giải pháp đồng bộ. Làm mát bền vững là bài toán liên ngành, liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương...
UBND Thành phố Hà Nội yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương chủ động rà soát các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển bền vững; đánh giá mức độ thực hiện và khả năng hoàn thành đến năm 2030, gắn với tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường...
Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) dự kiến bãi bỏ các tiêu chuẩn giảm phát thải carbon đối với nhà máy điện than và khí, tiếp tục đảo ngược chính sách khí hậu dưới thời Tổng thống Donald Trump...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Năm 2025, quy mô thị trường du lịch wellness toàn cầu được định giá 990,4 tỷ USD. Năm 2026, dự kiến 1.085,6 tỷ USD. Năm 2035 dự kiến 2.400 tỷ USD. Thị trường châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm cao nhất... trong giai đoạn 2026 - 2035.