Dữ liệu từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng cho thấy tỷ lệ nợ xấu (NPL) bình quân ngành tăng từ 1,87% lên 1,99%, tương ứng tăng 0,12 điểm phần trăm (đpt). Trong khi đó, tỷ lệ nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) tăng từ 1,17% lên 1,23% (+0,06 đpt). Đồng thời, tỷ lệ lãi và phí phải thu trên tổng tài sản tăng từ 0,87% lên 0,98% (+0,11 đpt), phản ánh quy mô các khoản thu nhập đã hạch toán nhưng chưa thực thu tiếp tục gia tăng tại nhiều ngân hàng.
Ở chiều ngược lại, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) toàn ngành giảm từ 82,74% xuống 79,78%, tương ứng giảm gần 3 đpt. Trong 27 ngân hàng khảo sát, có 19 nhà băng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu tăng, 20 ngân hàng có nợ nhóm 2 tăng và 16 ngân hàng chứng kiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu suy giảm trong quý đầu năm.
Trong nhóm ngân hàng có nhiều chỉ báo biến động đáng chú ý, TPBank nổi bật khi đồng thời ghi nhận nợ xấu tăng 0,56 điểm phần trăm, nợ nhóm 2 tăng mạnh nhất hệ thống (+0,81 điểm phần trăm), trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm 23,8 điểm phần trăm.
Bac A Bank cũng gây chú ý với mức tăng nợ xấu 0,73 điểm phần trăm, lãi và phí phải thu tăng 0,53 điểm phần trăm, trong khi LLR giảm mạnh nhất nhóm khảo sát (-39,59 điểm phần trăm).
PGBank là ngân hàng ghi nhận mức tăng nợ xấu mạnh nhất hệ thống trong quý I khi tỷ lệ NPL tăng 1,67 điểm phần trăm, từ 2,36% lên 4,03%. Điểm đáng chú ý là diễn biến này xảy ra đồng thời với việc tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm mạnh 20,1 điểm phần trăm xuống 31,15% – thuộc nhóm thấp nhất hệ thống. Dù nợ nhóm 2 giảm từ 3,54% xuống 2,7% nhưng tỷ lệ lãi và phí phải thu tiếp tục tăng nhẹ từ 0,72% lên 0,81%, cho thấy chất lượng dòng tiền thu nợ vẫn cần thêm thời gian quan sát.
Tại VietBank, diễn biến chất lượng tài sản trong quý 1/2026 cho thấy áp lực tín dụng có xu hướng gia tăng rõ hơn so với mặt bằng chung. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) tăng 0,43 điểm phần trăm, từ 2,92% lên 3,35% – thuộc nhóm có mức tăng mạnh trong hệ thống và đồng thời đưa ngân hàng vào nhóm có tỷ lệ nợ xấu trên 3%. Cùng lúc, tỷ lệ nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) tăng từ 1,03% lên 1,16%, cho thấy áp lực hình thành nợ xấu mới vẫn hiện hữu thay vì chỉ đến từ xử lý các khoản nợ cũ.
Đáng chú ý hơn, tỷ lệ lãi và phí phải thu trên tổng tài sản của VietBank tăng khá mạnh 0,38 điểm phần trăm, từ 1,39% lên 1,77% – thuộc nhóm tăng cao nhất hệ thống. Diễn biến này cho thấy quy mô các khoản thu nhập đã hạch toán nhưng chưa thu tiền tiếp tục mở rộng, trong bối cảnh chất lượng tài sản đồng thời chịu sức ép.
Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) của VietBank giảm từ 47,63% xuống 45,06%, tương ứng giảm 2,57 điểm phần trăm và tiếp tục nằm ở mức tương đối thấp so với mặt bằng nhiều ngân hàng niêm yết. Việc nợ xấu, nợ nhóm 2 và lãi, phí phải thu cùng tăng trong khi bộ đệm dự phòng suy giảm cho thấy chất lượng tài sản tại VietBank là trường hợp cần theo dõi kỹ hơn trong các quý tới, đặc biệt nếu áp lực chuyển nhóm nợ tiếp diễn.
Sacombank tiếp tục là trường hợp cần theo dõi khi tỷ lệ nợ xấu duy trì ở mức cao 6,62% – thuộc nhóm cao nhất hệ thống và tăng thêm 0,21 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Đồng thời, nợ nhóm 2 tăng từ 0,74% lên 0,95%, phản ánh áp lực tín dụng chưa hoàn toàn lắng xuống. Dù ngân hàng đã tăng tỷ lệ bao phủ nợ xấu thêm 3,24 điểm phần trăm lên 53,21%, mức dự phòng này vẫn tương đối thấp nếu đặt trong tương quan với quy mô nợ xấu hiện hữu.
Tại Saigonbank, nợ nhóm 2 tăng lên 9,14% – cao nhất hệ thống, đồng thời nợ xấu tăng lên 3,52% trong khi LLR giảm còn 29,3%. Sự kết hợp giữa tỷ lệ nợ cần chú ý rất cao và mức bao phủ tương đối mỏng khiến diễn biến chất lượng tài sản của ngân hàng này cần được theo dõi kỹ hơn trong các quý tới.
Như vậy, tại một số ngân hàng ghi nhận đồng thời nợ xấu, nợ nhóm 2 và lãi, phí phải thu cùng tăng trong khi bộ đệm dự phòng suy giảm, triển vọng lợi nhuận trong các quý tới có thể đối mặt áp lực lớn hơn. Đặc biệt, nếu nhu cầu tăng cường trích lập dự phòng gia tăng hoặc chi phí xử lý nợ ở mức cao hơn, dư địa tăng trưởng lợi nhuận của nhóm ngân hàng này có thể bị ảnh hưởng nhất định.
Ngày 9/7/2026, tại Tp. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã vinh dự nhận giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất Châu Á năm 2026” do HR Asia Magazine - Tạp chí nhân sự hàng đầu Châu Á trao tặng. Đây là năm thứ ba liên tiếp Vietcombank được vinh danh tại sự kiện uy tín này.
Dù mặt bằng giá hiện chưa biến động mạnh nhưng áp lực lạm phát đang âm thầm tích tụ, đặc biệt từ chi phí đẩy và rủi ro địa chính trị. Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng tốc, dư địa điều hành nhằm giữ CPI dưới 4,5% được dự báo ngày càng thu hẹp…
Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện đại (MBV) đã khai trương trụ sở kinh doanh mới tại tòa nhà của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. HCM (VIFC – HCMC) số 8 Nguyễn Huệ, phường Sài Gòn.
Ngày 10/7, giá mua USD giảm nhẹ ở nhiều ngân hàng trong khi giá bán gần như đồng loạt được niêm yết kịch trần ở mức 26.474 VND. Trên thị trường tự do, giá mua đi ngang còn giá bán tăng 30 đồng so với phiên trước…
Trong phiên sáng, chênh lệch giá mua, bán vàng miếng SJC chủ yếu ở mức 3 triệu đồng/lượng. Riêng một đơn vị, mức chênh lệch này nới rộng lên mức 4,9 triệu đồng/lượng cho thấy rủi ro nghiêng hẳn về phía người mua…
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Các đối tượng đều thành lập doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức góp vốn, đầu tư kinh doanh. Đây là một loại núp bóng trá hình, đặc biệt là tập trung vào lĩnh vực du lịch, nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe, y tế. Đó là cảnh báo của Bộ Công an liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.