Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) là chỉ tiêu phản ánh mức chi phí hoạt động mà ngân hàng phải bỏ ra để tạo ra một đồng thu nhập. CIR càng thấp thường cho thấy hiệu quả vận hành càng cao, khi ngân hàng kiểm soát chi phí tốt hơn tương quan với khả năng tạo doanh thu.
Tỷ lệ này chịu ảnh hưởng đồng thời từ quy mô thu nhập, chiến lược đầu tư, mức độ số hóa, cơ cấu khách hàng cũng như các khoản chi phí phát sinh theo từng giai đoạn.
Trong bối cảnh CIR trung bình toàn ngành quý I/2026 ở mức 29,82% và TTM đạt 31,68%, lần lượt giảm 2,26 và 0,4 điểm phần trăm so với năm 2025, một số ngân hàng nổi lên với hiệu quả vận hành vượt trội.
Dẫn đầu hệ thống là SHB, với CIR quý I/2026 chỉ 17,17%, thấp nhất trong 27 ngân hàng khảo sát và giảm 4,96 điểm phần trăm (đpt) so với mức bình quân năm 2025 (22,13%). Xếp thứ hai là VPBank với 21,69%, cải thiện 3,27 đpt so với năm trước. ABBank đứng thứ 3 với 23,46%, đồng thời là trường hợp cải thiện mạnh nhất nhóm khi CIR giảm tới 11,56 đpt so với mức 35,02% của năm 2025.
Nhóm duy trì CIR dưới 30% còn có MB và VietinBank, cùng ghi nhận 24,94%, đồng hạng thứ tư toàn hệ thống. Trong đó, VietinBank cải thiện mạnh 5,48 điểm phần trăm so với mức bình quân năm trước (30,42%).
Một số ngân hàng dù đã cải thiện đáng kể hiệu quả vận hành trong quý 1/2026 nhưng vẫn nằm trong nhóm có CIR cao nhất hệ thống, phản ánh áp lực chi phí tích lũy còn lớn.
Nổi bật nhất là Saigonbank (SGB), CIR quý I/2026 giảm 8,45 điểm phần trăm xuống còn 61,05%, thấp hơn mức 69,5% của năm 2025, nhưng CIR TTM vẫn lên tới 73,36% – cao nhất hệ thống. Điều này đồng nghĩa cứ tạo ra 100 đồng thu nhập hoạt động, ngân hàng phải chi hơn 73 đồng cho vận hành.
Tương tự, NCB (NVB) ghi nhận mức cải thiện mạnh nhất ngành khi CIR quý I giảm tới 27,2 điểm phần trăm xuống 47,18%, song TTM vẫn ở mức rất cao 67,92%, phản ánh hiệu quả vận hành tích lũy chưa cải thiện đáng kể.
Eximbank (EIB) cũng thuộc nhóm CIR cao nhất khi TTM đạt 60,97%, dù CIR quý I/2026 đã giảm xuống 56,98%, thấp hơn mức 58,33% của năm 2025.
Trong khi đó, BVBank (BVB) và Bac A Bank (BAB) lần lượt ghi nhận CIR TTM 56,67% và 56,36%, dù CIR quý đầu năm đều đã cải thiện hơn 6 điểm phần trăm so với năm trước. Diễn biến này cho thấy một quý cải thiện chưa đủ để kéo giảm đáng kể mặt bằng hiệu quả vận hành, đặc biệt tại các ngân hàng vốn duy trì CIR cao trong nhiều quý liên tiếp.
Đáng chú ý, một số ngân hàng có dấu hiệu “lệch pha” so với xu hướng chung khi CIR quý I/2026 tăng đáng kể so với mức bình quân năm 2025, phản ánh áp lực hiệu quả vận hành gia tăng trong ngắn hạn.
Nổi bật nhất là TPBank (TPB) với CIR quý I/2026 tăng lên 45,85%, cao hơn 11,24 điểm phần trăm so với mức 34,61% của năm 2025, đồng thời vượt đáng kể mức TTM 35,73%. Điều này cho thấy tốc độ tăng chi phí hoạt động trong quý gần đây của TPBank đang cao hơn tốc độ tạo thu nhập hoặc nguồn thu ngắn hạn có dấu hiệu chậm lại.
Xu hướng tương tự xuất hiện tại Nam A Bank (NAB) khi CIR quý 1/2026 ở mức 38,9%, tăng 5,8 điểm phần trăm so với mức 33,1% của năm 2025. Dù chưa thuộc nhóm CIR quá cao, mức tăng đáng kể này cho thấy hiệu quả vận hành trong quý đầu năm chịu áp lực nhất định.
VietBank (VBB) cũng ghi nhận diễn biến đáng chú ý khi CIR quý tăng lên 55,15%, cao hơn 7,43 điểm phần trăm so với mức 47,72% của năm trước, trong khi CIR TTM vẫn ở mức cao 48,45%, phản ánh áp lực chi phí diễn ra trên nền vốn đã kém hiệu quả hơn mặt bằng ngành. Tương tự, VietABank (VAB) ghi nhận CIR quý đạt 32,97%, tăng 7,29 điểm phần trăm so với mức 25,68% của năm 2025, dù ngân hàng vẫn duy trì CIR TTM chỉ 25,74%.
Tỷ lệ CIR cao thường xuất phát từ ba nguyên nhân chính.
Thứ nhất, nền thu nhập hoạt động còn nhỏ hoặc tăng chậm, khiến ngân hàng khó hấp thụ chi phí vận hành hiện hữu. Do CIR được tính bằng tỷ lệ giữa chi phí hoạt động trên tổng thu nhập, nên khi nguồn thu từ tín dụng, dịch vụ hoặc kinh doanh vốn chưa đủ lớn, chỉ cần chi phí duy trì bộ máy ở mức bình thường cũng có thể khiến CIR bị đẩy lên cao.
Thứ hai, ngân hàng đang trong giai đoạn đầu tư hoặc tái cơ cấu, như tăng chi cho công nghệ, chuyển đổi số, mở rộng mạng lưới hay nâng cấp hệ thống vận hành. Trong trường hợp này, chi phí thường tăng trước khi hiệu quả doanh thu kịp phản ánh, khiến CIR tạm thời ở mức cao trong ngắn hạn.
Thứ ba, áp lực mang tính cấu trúc về hiệu quả hoạt động, thể hiện ở việc CIR duy trì trên mức cao trong nhiều quý hoặc nhiều năm liên tiếp. Điều này có thể phản ánh bộ máy vận hành cồng kềnh, khả năng tạo thu nhập hạn chế hoặc hiệu quả khai thác khách hàng chưa tương xứng với quy mô chi phí.
Do đó, với những ngân hàng có CIR trên 50 - 60%, đặc biệt kéo dài qua nhiều kỳ, cần theo dõi thêm xu hướng cải thiện thay vì chỉ nhìn vào biến động của một quý riêng lẻ.
Một nghiên cứu của Fed chỉ ra rằng việc giá vàng tăng mạnh trong những năm gần đây chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu từ khu vực tư nhân, mà phần lớn dự trữ vàng chính thức lại nằm trong tay các quốc gia chưa từng mua thêm vàng trong hơn 50 năm qua...
Các thành viên trên thị trường liên ngân hàng vẫn đặt kỳ vọng cao vào tăng trưởng kinh tế và khả năng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhưng thận trọng hơn với triển vọng chứng khoán và bất động sản. Sự phân hóa này xuất hiện ngay cả khi thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, cho thấy dòng tiền dồi dào hơn chưa đồng nghĩa với điều kiện vốn thuận lợi hơn, nhất là khi chi phí huy động vẫn cao và những bất định bên ngoài còn lớn..
Tính đến 13 giờ ngày 9/9, giá mua, bán vàng miếng SJC và vàng nhẫn “4 số 9” giảm phổ biến 1,2 triệu đồng/lượng. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế, phí), chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới thu hẹp còn khoảng 5,21 triệu đồng/lượng, mức thấp nhất kể từ đầu tháng 9...
"Nếu đồng yên tiếp tục mạnh lên, quá trình giảm đòn bẩy từ từ có thể biến thành một đợt tháo chạy nhanh chóng và tự khuếch đại", một. chiến lược gia nhận định....
Hơn một triệu thẻ tín dụng, top 3 toàn thị trường về chi tiêu và quy mô giao dịch vượt 5 tỷ USD tiếp tục khẳng định vị thế top đầu của VIB trên thị trường thẻ Việt Nam.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.