Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Phạm Từ trao đổi với VnEconomy về những mục tiêu dài hạn của du lịch Việt Nam
.
Ngành du lịch vừa đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 đón được 6 triệu lượt khách, đạt tổng doanh thu 4 tỉ USD. Nhưng nhìn sang các nước như Thái Lan, Singapore, Malaysia, mỗi năm họ đón khoảng 17 triệu lượt khách, trong khi đó Việt Nam trong năm qua mới chỉ hơn 3 triệu. Vậy theo ông, ngành du lịch Việt Nam cần phải làm gì để ít nhất là theo kịp họ?
Theo tôi, trước hết con số chỉ tiêu này phải tính khác đi, không phải là 6 triệu như mục tiêu đặt ra. Cái quan trọng không phải là số lượng khách mà phải chất lượng.
Bây giờ chúng ta không nên chỉ dừng ở con số 700-800 USD chi tiêu cho một lượt khách vào mà phải tính đến chuyện làm sao để mỗi khách chi khoảng 1000 -1.200 USD như ở Thái Lan hoặc 2.200 USD như ở Australia khi đến Việt Nam du lịch.
Nếu làm được điều đó, tôi tin chắc rằng, chúng ta sẽ đạt được chỉ tiêu đề ra một cách dễ dàng, thậm chí tăng gấp rưỡi, gấp đôi chỉ tiêu đề ra, không chỉ là lượng khách mà còn ở hiệu quả doanh thu về du lịch.
Tôi nghĩ rằng, Việt Nam nên đi theo hướng này, bởi nếu chạy đua về số lượng thì chắc chắn chưa thể nhanh được vì hạ tầng cơ sở chúng ta còn nhiều hạn chế về vật chất, cơ sở hạ tầng, buồng phòng…chưa kể phải gắn với việc phát triển bền vững nữa.
Chủ trương của tôi không phải là đẩy nhanh lượng khách bằng cách phát triển du lịch hạ giá, mà là tiền nào của nấy, giá cả tương ứng với giá trị.
Rõ ràng làm được như vậy thì hiệu quả nhất, song để làm được chắc không hề đơn giản, thưa ông?
Đúng vậy. Để làm được điều này, cần phải có sự phối hợp của liên ngành. Bởi doanh thu du lịch không chỉ ở doanh thu trong tour mà phải kéo dài ngày lưu trú để tăng khả năng chi trả của khách, đặc biệt là xuất khẩu tại chỗ thông qua việc bán hàng.
Và như vậy, liên kết giữa du lịch và thương mại phải khăng khít, tương hỗ lẫn nhau bằng cách hình thành nhiều hơn các trung tâm thương mại, tổ chức các chương trình khuyến mại, đại hạ giá, có chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng… Ở nước ngoài, người ta cũng đã thực hiện điều này từ lâu.
Nếu thực hiện được như vậy thì không chỉ 4 tỉ USD như mục tiêu đặt ra đến năm 2010 mà nhiều khả năng còn lên đến 8 tỉ USD, dù là số lượng khách quốc tế đến Việt Nam không bằng các nước khác.
Tuy nhiên, để đạt được này vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn, phải xem lại từ quy hoạch, kế hoạch, chiến lược, đào tạo nguồn nhân lực, thu hút đầu tư để tạo sản phẩm.
Vậy theo ông đâu là những điểm yếu mà ngành du lịch Việt Nam cần phải khắc phục để đáp ứng tốt yêu cầu hội nhập?
Thứ nhất là về sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch của chúng ta manh mún quá, hầu như còn ở dạng tiềm năng, trong khi đó bối cảnh bây giờ đòi hỏi các sản phẩm phải hiện đại, quy mô lớn, đạt được tiêu chuẩn quốc tế.
Tôi lấy ví dụ ngay như trong lĩnh vực khách sạn thôi, hiện nay, khách sạn cao nhất của chúng ta cũng chỉ đạt 600 phòng, trong khi đó các nước khác là 6.000 phòng. Việt Nam cần có nhiều khách sạn cỡ nghìn phòng, hay những trung tâm những tổ hợp du lịch đồng bộ, để khách đến không chỉ đi du lịch khám phá một lần là xong mà phải chuyển sang loại hình du lịch nghỉ dưỡng, để họ không chỉ đến một lần. Hay như đến giờ Việt Nam vẫn chưa có một khu resort đủ tiêu chuẩn và tầm cỡ quốc tế.
Nhưng có một thuận lợi là hiện đang có rất nhiều nhà đầu tư lớn vào Việt Nam mang theo những dự án xây dựng khu du lịch lớn cỡ 1 tỉ USD. Tôi cho rằng, đây là một nét mới sau hội nhập.
Chúng tôi cũng đang khuyến cáo các tỉnh không nên chạy theo số lượng các dự án đầu tư. Đây cũng là một căn bệnh thành tích cần phải được chấm dứt. Mặc dù, phải nói rằng, chúng ta cũng đang khát vốn đầu tư, nhưng không cần phải liệt kê nhiều dự án mà đôi khi tổng số vốn cũng chỉ bằng một dự án lớn.
Thứ hai là về dịch vụ. Dịch vụ của mình còn lắm chuyện phải bàn. Bây giờ có 800.000 người làm việc trong ngành du lịch dịch vụ kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Chỉ một nửa trong số đó là được đào tạo bàn bản, còn lại là tay ngang. Như thế, nhu cầu đào tạo để nâng cao chất lượng dịch vụ của ta rất lớn.
Hiện nay, chúng ta mới chỉ chú ý đầu tư để xây dựng phần cứng mà bỏ qua phần mềm đó là nguồn nhân lực, con người. Ví dụ như chúng ta xây dựng một khách sạn, về phần cứng rất tốn kém, nhưng chúng ta không chú ý rằng, 50% yếu tố để xây dựng nên khách sạn đó là nguồn nhân lực. Do đó cũng phải chi khoảng 50% chi phí cho vấn đề đó.
Sau những thành công về thu hút du khách quốc tế trong năm ngoái, ông dự đoán như thế nào về lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm nay?
Theo tôi năm nay chúng ta hoàn toàn có thể đạt được chỉ tiêu đề ra là trên 4 triệu lượt khách. Quý 1 này đã là 1,1 triệu lượt khách rồi. Nếu không có gì bất khả kháng thì tốc độ còn tăng nữa. Trong năm ngoái, quý 2, quý 3 giảm so với quý 1, nhưng năm nay quý 2, quý 3 và quý 4 sẽ tăng.
Một quý mà được 1,1 triệu thì chắc chắn những quý sau sẽ còn tăng hơn nữa.
Thưa, dựa vào đâu mà ông có những dự đoán như thế?
Có hai yếu tố khiến tôi tự tin khẳng định điều đó. Một là những nhân tố mới của hội nhập. Đặc biệt sau thành công của APEC vừa qua, Việt Nam đã được thế giới biết đến như một điểm đến an toàn và thân thiện. Vị thế của Việt Nam đang lên và những yếu tố cạnh tranh quốc gia đã xuất hiện.
Hai là những hiệu ứng tích cực từ những chiến lược xúc tiến quảng bá hình ảnh được thực hiện rất tốt trong năm vừa qua.