
Trong 7 tháng đầu năm 2019, giá sắt thép xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt mức trung bình 650,6 USD/tấn, giảm mạnh 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Số liệu thống kê mới nhất từ Tổng cục Hải quan cho thấy, trong 7 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã xuất khẩu được 3,89 triệu tấn sắt thép, tương đương trị giá 2,53 tỷ USD.
Như vậy, sắt thép xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 14% về lượng nhưng giảm 0,1% về kim ngạch.
Đáng chú ý, mức giá xuất khẩu trung bình chỉ đạt 650,6 USD/tấn, giảm mạnh 12,4% so với cùng kỳ năm 2018.
Về thị trường xuất khẩu, Campuchia vẫn là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại sắt thép của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm.
Theo đó, xuất khẩu sang thị trường này hiện chiếm trên 26,7% tổng lượng và chiếm 24,5% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam.
Trong 7 tháng qua, Việt Nam đã xuất khẩu sang Campuchia 1,04 triệu tấn sắt thép các loại, tương đương 618,9 triệu USD, tăng 44,5% về lượng, tăng 33,8% về kim ngạch nhưng giảm 7,4% về giá so với cùng kỳ năm 2018.
Thị trường xuất khẩu sắt thép lớn thứ hai là Indonesia khi chiếm trên 11% tổng lượng và tổng kim ngạch, đạt 430.519 tấn, tương đương 290,4 triệu USD, tăng 15,6% về lượng nhưng giảm 1,7% về kim ngạch.
Mức giá sắt thép xuất khẩu sang thị trường này cũng chỉ đạt 674,5 USD/tấn, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Thị trường lớn thứ ba là Malaysia, chiếm 11,3% tổng lượng và chiếm 10,8% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam.
Xuất khẩu sắt thép sang Malaysia đạt 438.748 tấn, trị giá 272,59 triệu USD, tăng 12% về lượng và tăng 2% về kim ngạch.
Cũng giống như Campuchia và Indonesia, mức giá xuất khẩu sang Malaysia chỉ đạt giá 621,3 USD/tấn, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm 2018.
Đặc biệt, xuất khẩu sắt thép các loại sang thị trường Trung Quốc tăng mạnh 1.656% về lượng và tăng 500% về trị giá so với năm ngoái, đạt 75.439 tấn, trị giá 38,77 triệu USD.
Ngoài ra, xuất khẩu mặt hàng này còn tăng mạnh tại thị trường Brazil (tăng 178,6% về lượng và tăng 166,9% về trị giá) và Nhật Bản (tăng 285,4% về lượng và tăng 161,6% về trị giá).
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sắt thép sang thị trường Mỹ sụt giảm rất mạnh 42,2% về lượng và giảm 46,3% về kim ngạch, đạt 308.155 tấn, tương đương 243,39 triệu USD, giá cũng giảm 7,1%, đạt 789,8 USD/tấn.




Biến động giá nhiên liệu đặt doanh nghiệp xăng dầu trước yêu cầu cân đối vốn nhập hàng, hàng tồn kho và lịch thanh toán. Sự kết nối giữa tín dụng và quản trị dòng tiền trở thành điểm tựa giúp doanh nghiệp chủ động duy trì nhịp kinh doanh.
Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức sẽ diễn ra chiều 29/10/2026 tại Trung tâm hội nghị BMC, tầng 11, Tòa nhà V.E.T Building, 98 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp và môi trường nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, công nghệ bảo quản, chế biến sâu hạn chế, dữ liệu chưa liên thông đang cản trở tăng trưởng. Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường...
Mỗi sáng kiến dù nhỏ, nếu được áp dụng hiệu quả và được chia sẻ, nhân rộng, sẽ tạo nên nguồn lực đổi mới mạnh mẽ…
Làn sóng điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp trên toàn cầu đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Canada, Ấn Độ, Mexico và Australia đang đứng trước nguy cơ cao bị đưa vào diện điều tra, theo dõi hoặc áp thuế...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...