PwC Việt Nam vừa công bố kết quả Khảo sát Doanh nghiệp Gia đình lần thứ 12. Khảo sát thuộc nghiên cứu toàn cầu với sự tham gia của 1.325 doanh nghiệp tại 62 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 32 đại diện từ Việt Nam.
DẪN ĐẦU TRONG THẾ GIỚI PHÂN MẢNH
Theo PwC, trong bối cảnh các xu hướng toàn cầu như AI tạo sinh, biến đổi khí hậu và dịch chuyển địa chính trị khiến các động lực tăng trưởng truyền thống trở nên thiếu hiệu quả; Việt Nam mang đến một môi trường khác biệt. Nền kinh tế vẫn duy trì sức bền đáng kể, được củng cố từ những cải cách cơ cấu của chính phủ. Điều này cũng tạo ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp gia đình Việt Nam.
Các doanh nghiệp gia đình Việt Nam đang biến cơ hội thành những kết quả vượt trội, qua đó thúc đẩy sự hồi sinh mạnh mẽ về niềm tin cho sự tăng trưởng trong tương lai.
Kết quả khảo sát cho thấy, 75% ghi nhận có tăng trưởng doanh số trong năm tài chính vừa qua. 41% đạt mức tăng trưởng hai chữ số, cao hơn mức trung bình toàn cầu là 25%.
Đặc biệt, số liệu khảo sát chỉ rõ khát vọng tăng trưởng của doanh nghiệp gia đình, khi 31% đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh chóng và mạnh mẽ (toàn cầu: 16%).
Báo cáo cũng chỉ rõ 5 xu hướng toàn cầu tác động mạnh mẽ nhất đến doanh nghiệp gia đình trong năm qua. Trong đó, doanh nghiệp gia đình Việt Nam chịu tác động lớn nhất từ biến động kinh tế (ví dụ: lạm phát, gián đoạn chuỗi cung ứng), chiếm 69%. 66% doanh nghiệp chịu tác động từ đổi mới công nghệ (AI, tự động hóa) và sự thay đổi hành vi người tiêu dùng. 56% doanh nghiệp gia đình chịu ảnh hưởng từ rủi ro địa chính trị; 47% tác động bởi thuế.
Dù chịu áp lực lớn, song phần lớn hoạt động hiện nay mang tính phản ứng thay vì chủ động. Ví dụ, trong việc ứng phó với thay đổi hành vi người tiêu dùng, 44% thừa nhận họ chỉ phản ứng nhanh khi thay đổi đã rõ ràng, trong khi chỉ có 9% chủ động dự đoán và thích nghi trước. Vị thế phản ứng này là một bất lợi đáng kể trong một thị trường đòi hỏi sự tầm nhìn xa và thích ứng tốt.
Ngoài ra, báo cáo cũng phân tích mức độ ưu tiên cho danh tiếng của doanh nghiệp gia đình chưa cao. Danh tiếng không được ưu tiên cao tại Việt Nam như trên toàn cầu (62% xem danh tiếng là “rất quan trọng”, so với mức 78% ở toàn cầu). Điều này phản ánh một cách nhìn thận trọng hơn về lợi thế niềm tin vốn có của doanh nghiệp gia đình.
Mối lo ngại lớn nhất cho danh tiếng của doanh nghiệp gia đình Việt Nam là vấn đề đạo đức trong chuỗi cung ứng, với 50% phản hồi đề cập - cao hơn gấp đôi so với toàn cầu. Điều này cho thấy sự lo ngại rõ rệt về danh tiếng trong vận hành.
Đặc biệt, trước ngã rẽ phát triển bền vững, báo cáo cho thấy cộng đồng doanh nghiệp có hai quan điểm trái ngược về vấn đề này. Trong khi 41% coi đây là cơ hội để dẫn đầu về phát triển bền vững, một tỷ lệ tương đương cho rằng họ chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ, phản ánh sự lưỡng lự trong việc tích hợp ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) như một động lực cốt lõi cho thương hiệu.
ĐẶT RA KHÁT VỌNG RÕ RÀNG CHO CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP
Nhìn về 5 năm tới, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp gia đình chia sẻ một tầm nhìn chiến lược rõ ràng và nhất quán. Những ưu tiên dài hạn hàng đầu bao gồm: Đảm bảo khả năng chống chịu lâu dài của doanh nghiệp (91%); đầu tư vào đổi mới sáng tạo (72%); tăng cường chuyển đổi số (69%).
Công nghệ được xem là động lực chính cho tăng trưởng nhưng cũng là rào cản lớn đối với doanh nghiệp gia đình. Như “Trí tuệ nhân tạo” là rủi ro lớn trong thực thi, cản trở cam kết mạnh mẽ cần thiết để hiện thực hóa tầm nhìn chuyển đổi.
Doanh nghiệp gia đình Việt Nam đề cao sứ mệnh giữ gìn sự liên tục và bảo toàn giá trị gia đình, cao hơn tỷ lệ toàn cầu. Cụ thể, 94% ưu tiên bảo vệ hoạt động kinh doanh như một tài sản (toàn cầu: 78%), 81% mong muốn gìn giữ di sản gia đình (toàn cầu: 77%), phản ánh sự gắn bó sâu sắc việc bảo tồn truyền thống.
Để biến tham vọng thành tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp gia đình cần vượt ra khỏi khuôn mẫu vận hành truyền thống. Con đường phía trước cần một chuyển đổi căn bản: từ việc dựa vào sức mạnh quá khứ sang chủ động xây dựng năng lực tương lai.
Trọng tâm trước mắt phải là thay đổi tư duy. Hiện nay, các nhà lãnh đạo vẫn nhìn nhận lợi thế của mình chủ yếu ở khía cạnh vận hành như “hiệu quả chi phí” (69%). Để xây dựng khả năng chống chịu thực sự, họ cần khai thác lại tài sản chiến lược mạnh mẽ nhưng chưa được đánh giá đúng mức, đó là “tầm nhìn dài hạn” (25% so với 63% toàn cầu).
Những rào cản chính đối với khả năng chống chịu đến từ bên trong, không phải bên ngoài. Do đó, các nhà lãnh đạo cần trực tiếp xử lý những trở ngại chính đối với sự thích ứng, cụ thể “thiếu chuyên môn nội bộ” (41%) và “thiếu sự đồng thuận giữa các thế hệ” (38%).
Thực hiện những cải cách căn bản. Bổ sung các chuyên gia độc lập ngoài thành viên gia đình vào đội ngũ lãnh đạo (34%) và điều chỉnh cơ cấu hội đồng quản trị (31%).
Khảo sát cũng cho rằng doanh nghiệp gia đình Việt Nam sở hữu nền tảng mục tiêu vững chắc. Khi 84% xác định rõ mục tiêu kinh doanh (toàn cầu: 64%), và 91% đã chuẩn hóa giá trị gia đình và kỳ vọng cho các thành viên. Tuy nhiên chỉ có 22% truyền thông mục tiêu ra bên ngoài và 22% liên kết mục tiêu với định hướng khách hàng.
PwC nhấn mạnh cần kích hoạt những mục tiêu này để tạo lợi thế chiến lược cho khu vực doanh nghiệp gia đình. Bằng cách, tích hợp mục tiêu vào hoạt động marketing và truyền thông đối ngoại. Điều này biến mục tiêu từ giá trị nội bộ thành lợi thế cạnh tranh công khai, củng cố thương hiệu và niềm tin với khách hàng. Liên kết mục tiêu trực tiếp với đề xuất giá trị cho khách hàng và các chương trình gắn kết nhân viên.
Theo bà Lương Thị Ánh Tuyết, Lãnh đạo dịch vụ Doanh nghiệp tư nhân PwC Việt Nam, trong thời điểm mang tính bước ngoặt hiện nay, sự phát triển lâu dài của các doanh nghiệp gia đình phụ thuộc vào một yêu cầu chiến lược: kết hợp sức mạnh của mục tiêu, nguồn vốn dài hạn và danh tiếng với trọng tâm về tính linh hoạt và quản trị chuyên nghiệp.
Bà Tuyết nhận định: “Khi làm chủ sự kết hợp này, các doanh nghiệp gia đình không chỉ bảo vệ di sản, mà còn vươn tầm ảnh hưởng trong nền kinh tế Việt Nam và xa hơn thế”.
Trước tình trạng thiếu hụt nguồn cung dầu diesel (DO) tại nhiều cửa hàng bán lẻ trên địa bàn, UBND tỉnh Quảng Trị đã yêu cầu các sở, ngành và doanh nghiệp khẩn trương triển khai các giải pháp nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu, không để ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân...
Xuất khẩu tôm tiếp tục là điểm sáng của ngành thủy sản trong nửa đầu năm 2026 khi đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, với động lực chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc và sự bứt phá của mặt hàng tôm hùm. Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức từ chính sách thuế tại Hoa Kỳ và chi phí logistics gia tăng...
Việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch CPTPP năm 2026 đang mở ra cơ hội thúc đẩy kết nối giữa Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với Liên minh châu Âu (EU), qua đó góp phần tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, thúc đẩy thương mại số và mở rộng cơ hội đầu tư trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều biến động…
Dù đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong 6 tháng đầu năm 2026, song xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đang đối mặt với những rủi ro gia tăng từ các vụ điều tra phòng vệ thương mại, rào cản thuế quan và xu hướng thắt chặt chính sách từ chính quyền sở tại...
Đợt mưa lớn kéo dài vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là Lai Châu, Lào Cai, Sơn La và Điện Biên. Theo báo cáo nhanh của Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, tính đến ngày 21/7, thiên tai đã làm 6 người thiệt mạng, 2 người mất tích, hàng trăm ngôi nhà bị hư hỏng, nhiều tuyến giao thông bị chia cắt. Tổng thiệt hại ước tính trên 502,76 tỷ đồng...
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.