Hơn thập kỷ qua, xuất khẩu đã đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước. Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển, Việt Nam cần chuyển từ việc mở rộng kim ngạch sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu.
Thực tế đã cho thấy xuất nhập khẩu đã tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Năm 2024, xuất khẩu đóng góp 19% vào GDP, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 786,1 tỷ USD và mức xuất siêu 23,8 tỷ USD. Điều này không chỉ thể hiện ở kim ngạch mà còn ở quy mô doanh nghiệp và lao động tham gia, với khoảng 88,7 nghìn doanh nghiệp và 12,5 triệu lao động gắn bó trực tiếp với hoạt động này. Sự gia tăng giá trị thương hiệu quốc gia cũng là một điểm sáng, khi giá trị thương hiệu Việt Nam đạt 507 tỷ USD vào năm 2024, đứng thứ 32/193 quốc gia được xếp hạng.
Tuy nhiên, cấu trúc xuất khẩu hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng kim ngạch, trong khi giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa còn thấp. Trong giai đoạn 2015–2024, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam có biến động, với mức tăng trưởng âm vào năm 2023. Điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu, chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, đẩy mạnh tỷ lệ nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Một trong những hạn chế lớn hiện nay là giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu còn thấp do công nghiệp nội địa trong ngành chế biến chế tạo phát triển chưa tương xứng. Các doanh nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên, vật liệu và sản phẩm trung gian. Khu vực doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi vai trò của doanh nghiệp trong nước còn khiêm tốn.
Để khắc phục những hạn chế này, cần có tư duy mới từ cơ quan quản lý đến doanh nghiệp. Chiến lược xuất nhập khẩu cần ưu tiên gia tăng giá trị nội địa trong xuất khẩu, phát triển công nghiệp hỗ trợ và chuỗi cung ứng trong nước. Doanh nghiệp Việt Nam cần đóng vai trò tiên phong trong thay đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu, chú trọng phát triển thương hiệu sản phẩm và đầu tư mạnh vào đổi mới công nghệ. Chỉ khi đó, xuất khẩu mới thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, đóng góp vào mục tiêu nâng cao vị thế quốc gia và hội nhập quốc tế sâu rộng...
(*) TS. Lê Duy Bình, Economica Vietnam.
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 39-2025 phát hành ngày 29/09/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam.html
Nội dung thảo luận tập trung vào cơ chế công khai danh mục Nhà nước độc quyền thương mại, kiểm soát giá - chất lượng hàng hóa, đồng thời rà soát kỹ việc bãi bỏ các quy định hợp đồng để tránh tạo khoảng trống pháp lý cho doanh nghiệp...
Theo nhiều đại biểu Quốc hội, thay vì chỉ tập trung vào tổng diện tích sàn hoặc số lượng căn hộ được xây dựng, cần có cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; Thay vì cấm sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở, cần nghiên cứu trường hợp ngoại lệ, nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của cư dân…
Hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng phải được đo bằng thiệt hại được giải quyết thực chất, không phải bằng số thủ tục hay số đầu mối đã được phân cấp…
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) đã kỷ niệm 50 năm thành lập và vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của UEH, góp phần kiến tạo đội ngũ tri thức, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…
“Quan trọng nhất của việc xây dựng luật này chính là bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư và của các thành viên thị trường”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.