
Xét trên bức tranh lớn, tác động tổng thể và cộng hưởng của các hiệp định FTA là tích cực, Thủ tướng trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Thúy về các giải pháp hạn chế rủi ro khi hội nhập kinh tế, tại văn bản đề ngày 14/7/2015.
Ở phiếu chất vấn, đại biểu Kim Thúy (Đà Nẵng) đặt vấn đề, hiện nay Việt Nam đã gia nhập nhiều hiệp định thương mại đa phương và song phương và cuối năm nay sẽ mở cửa thị trường hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có thị trường lao động. Người dân rất quan tâm.
Đại biểu Thúy đề nghị Thủ tướng cho biết, Chính phủ đã chuẩn bị giải pháp gì để hạn chế rủi ro khi hàng hóa, doanh nghiệp, lao động nước ngoài tự do vào Việt Nam?
Liệu có tránh được tình trạng sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam đình đốn, hàng hóa nội địa bị ế ẩm, lao động trong nước gia tăng thất nghiệp?
Tại văn bản trả lời, Thủ tướng nêu rõ, các hoạt động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế như việc thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN, ký kết hai hiệp định FTA song phương với Liên minh Kinh tế Á - Âu và Hàn Quốc, đàm phán TPP… luôn mang lại cả lợi ích và thách thức.
Theo Thủ tướng, trong quá trình đàm phán về việc thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu, Việt Nam đã cố gắng yêu cầu có lộ trình cắt giảm thuế dài nhất có thể, cụ thể là kéo dài đến năm 2015, một số mặt hàng nhạy cảm được linh hoạt đến 2018.
Trong khi các nước ASEAN 6 đã cơ bản hoàn tất lộ trình vào năm 2010 với mức độ tự do hóa tới 99% biểu thuế.
“Như vậy, doanh nghiệp đã có thời gian để chuẩn bị cho thách thức”, Thủ tướng hồi âm đại biểu.
Điểm đáng lưu ý khác được người trả lời chất vấn đề cập, là khi hội nhập sức ép cạnh tranh trong mỗi ngành hàng là khác nhau, thậm chí ngay trong cùng một ngành hàng thì sức ép cạnh tranh với từng doanh nghiệp cũng có thể khác nhau.
Ví dụ, một số mặt hàng nông sản có thể phải cạnh tranh mạnh hơn với hàng hóa tương đồng đến từ các nước ASEAN, trong khi đó mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực dệt may có thể không quá gắt gao do sản phẩm từ các đối tác EU thuộc phân khúc cao cấp.
Ngược lại, nhiều loại đầu vào như máy móc, trang thiết bị, nguyên vật liệu lại là hàng hóa Việt Nam rất cần để phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Một số đối tác trong FTA có cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, sản phẩm công nghệ cao sẽ mang tính bổ sung cho nền kinh tế Việt Nam hơn là cạnh tranh với sản xuất trong nước.
“Quan trọng hơn, đây là con đường Việt Nam phải đi qua để đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế”, Thủ tướng nhấn mạnh điểm đáng lưu ý cuối cùng, khi Việt Nam hội nhập kinh tế.
Những lợi ích lớn từ tác động tổng thể và cộng hưởng của các hiệp định FTA cũng được người đứng đầu Chính phủ khái quát.
Như, giúp Việt Nam thiết lập và củng cố trạng thái cân bằng động trong quan hệ với các đối tác, tránh phụ thuộc sâu vào một thị trường hay một khu vực thị trường cụ thể.
Mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu, đặc biệt là những sản phẩm mà Việt Nam có thể mạnh, từ đó giúp giải quyết các vấn đề liên quan như lao động, việc làm…
Bên cạnh đó, tác động tổng thể và cộng hưởng của các hiệp định FTA, theo Thủ tướng, còn tạo thêm động lực cải cách thể chế, giúp xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch và thúc đẩy đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam.
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động phức tạp và rủi ro gia tăng, tăng trưởng kinh tế quý 2/2026 và 6 tháng năm 2026 cho thấy những tín hiệu lạc quan của nền kinh tế Việt Nam. Đây là nền tảng vững chắc để nền kinh tế sẵn sàng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số mà Quốc hội đã đặt ra.
Chính phủ vừa hoàn thiện bộ máy Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đặt mục tiêu xây dựng một trung tâm tài chính hiện đại, minh bạch và hội nhập quốc tế, gắn với vai trò đầu tàu của TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng…
6 tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 10,8%, cao nhất kể từ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vai trò “đầu tàu” dẫn dắt khi tăng tới 11,4%. Kết quả này cùng với dòng vốn FDI đang “chảy” vào mạnh mẽ, sẽ tạo động lực cho ngành công nghiệp Việt Nam bứt phá trong thời gian tới.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đã xác lập cột mốc ấn tượng với 549,69 tỷ USD. Dù nhập siêu 16,65 tỷ USD, song kết quả này phản ánh sự phục hồi sản xuất và nhu cầu đầu vào tăng mạnh của khu vực FDI. Đây là tín hiệu tích cực để nền kinh tế tích lũy năng lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.