Sáng sớm ở Thọ Long, sương còn phủ nhẹ trên những luống rau má xanh mướt. Tiếng máy xay, tiếng cười nói vang lên trong khu xưởng nhỏ của Hợp tác xã (HTX) cây trồng và vật nuôi Đồng Ngâu. Ông Lê Viết Ngọc, người đàn ông dáng lam lũ, cẩn thận kiểm tra từng mẻ bột vừa được đóng gói.
Sinh ra trong một gia đình thuần nông, đông con ở Thọ Long, tuổi thơ ông Lê Viết Ngọc gắn liền với những ngày đói kém. “Thời những năm 1985, cơm không đủ ăn, cha mẹ tôi thường sai ra đồng cắt rau má luộc ăn qua bữa. Cây rau má khi ấy là cây cứu đói của dân làng”, ông kể.
Sau này, khi kinh tế ổn định hơn, ông Ngọc thuê lại 3ha đất của xã để trồng cây ăn trái và đào ao thả cá. Trong khu vườn ấy, rau má mọc chen dưới tán cây, lan nhanh khắp đất. Ban đầu, ông chỉ cắt bán tươi cho thương lái với giá 15.000–20.000 đồng/kg. Nhưng càng làm, ông càng nhận ra cây rau má bản địa có sức sống bền bỉ, vị thơm đặc trưng mà ít nơi có được.
“Vào chính vụ, rau má phát triển nhanh đến mức cắt không kịp. Thấy bán tươi không hiệu quả, tôi nghĩ sao không làm bột để bảo quản lâu và nâng giá trị?”, ông nhớ lại.
Từ ý tưởng ấy, năm 2019, ông cùng vợ thành lập Hợp tác xã cây trồng và vật nuôi Đồng Ngâu, mạnh dạn vay vốn ngân hàng, đầu tư máy móc, xây dựng nhà xưởng chế biến bột rau má. Ông chọn giống rau má bản địa, lá nhỏ, vị bùi và đắng nhẹ thay vì giống lai cho năng suất cao. Cây được trồng hoàn toàn tự nhiên, không thuốc trừ sâu, không phân hóa học, mà chỉ sử dụng chế phẩm vi sinh Tribi và thuê lao động địa phương làm cỏ.
“Rau má quê mình có hồn riêng. Tôi không muốn đánh đổi hương vị tự nhiên ấy lấy năng suất”, ông nói, giọng chắc nịch.
Trong khu xưởng nhỏ ở Thọ Long, mọi công đoạn sản xuất đều được kiểm soát chặt chẽ: từ khâu rửa, chọn lọc, hấp sấy đến nghiền và đóng gói đều diễn ra trong phòng lạnh khử khuẩn bằng tia UV. Nhờ quy trình khép kín này, sản phẩm của Hợp tác xã Đồng Ngâu đảm bảo chất lượng, an toàn cho người tiêu dùng.
Hiện hợp tác xã đã trồng hơn 1ha rau má và liên kết với 15 hộ dân trong vùng, mở rộng gần 2ha vùng nguyên liệu. Mỗi năm, hợp tác xã tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động địa phương và hàng chục người khác trong vùng liên kết.
Từ loại rau dân dã, hợp tác xã Đồng Ngâu hiện đã cho ra đời 5 sản phẩm chủ lực: bột rau má nguyên vị, rau má đậu xanh, rau má hạt sen, rau má ngũ vị và trà rau má. Trong đó, bột rau má nguyên vị đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao, hai sản phẩm khác đang được hoàn thiện hồ sơ để đạt OCOP 4 sao. Doanh thu hằng năm của hợp tác xã ước đạt 5–6 tỷ đồng.
Ông Lê Chí Thế, Phó Chủ tịch UBND xã Thọ Long, cho biết: “Hợp tác xã Đồng Ngâu hoạt động hiệu quả, tạo việc làm ổn định cho hàng chục lao động. Chúng tôi định hướng mở rộng vùng trồng, phát triển rau má thành sản phẩm chủ lực của địa phương.”
Trên bàn làm việc của ông Ngọc, những gói bột rau má xanh mướt mang nhãn hiệu “Đồng Ngâu – Rau má xứ Thanh” xếp ngay ngắn. Ông bảo, mỗi gói bột là một phần ký ức tuổi thơ, là minh chứng cho sức sống bền bỉ của người nông dân đất Thọ Long.
“Rau má là món quà của đất. Nếu biết gìn giữ và khai thác đúng cách, nó có thể trở thành thương hiệu nông sản của Thanh Hóa,” ông Ngọc nói, giọng trầm ấm.
Từ đầu năm, Foxconn đã bổ sung vốn gần 39,4 triệu USD hồi cuối tháng 1; 287,1 triệu USD vào tháng 3; 58,3 triệu USD giữa tháng 4, khoảng 62 triệu USD vào đầu tháng 8...
Ngày 19/8/2026, UBND tỉnh Nghệ An phối hợp với các nhà đầu tư tổ chức khởi công Dự án Nhà máy điện rác Nghệ An tại xã Hải Lộc và khởi công kỹ thuật Dự án Khu nghỉ dưỡng La Brise tại phường Tân Mai. Hai dự án có tổng vốn đầu tư hơn 6.150 tỷ đồng, thuộc các lĩnh vực xử lý chất thải, năng lượng, du lịch và dịch vụ...
Từ vùng đất trước đây chỉ sản xuất lúa 1 vụ/năm với hiệu quả kinh tế bấp bênh, khu đồng Sùng, phố Tân Hồ, phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa đang hình thành mô hình kinh tế “3 trong 1” từ cây sen: kết hợp trồng sen làm nguyên liệu, chế biến sản phẩm và phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm. Mô hình hiện mang lại doanh thu hàng trăm triệu đồng/năm.
Sau hơn hai thập kỷ đầu tư vào tôm giống và công nghệ di truyền, năng lực công nghệ đang được mở rộng để phát triển các giải pháp thủy sản hướng tới thị trường quốc tế, trong bối cảnh ngành tôm Việt Nam chuyển dần từ lợi thế tự nhiên sang cạnh tranh bằng khoa học, công nghệ và giá trị gia tăng…
Phát triển bền vững không còn là trách nhiệm xã hội hay nhiệm vụ riêng của bộ phận ESG, mà đã trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi và động lực tăng trưởng hàng đầu. Cuộc đua này đòi hỏi sự gắn kết chiến lược, đồng hành hành động giữa Doanh nghiệp – Địa phương – Nhà trường - Quốc gia...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.