
Với 15,5 triệu lượt khách quốc tế và 80 triệu lượt khách nội địa, tổng nguồn thu từ khách du lịch năm 2018 đã mang về cho Việt Nam hơn 620.000 tỷ đồng.
Báo cáo mới nhất từ Tổng cục Du lịch cho biết, trong năm 2018, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gần 20% so với năm 2017, góp phần làm tăng nguồn thu từ khách du lịch lên 21,4% so với năm trước đó.
Trong đó, khách đến từ đường hàng không năm 2018 đạt 12,4 triệu lượt người, đến từ đường biển đạt 215.000 lượt người và đường bộ đạt 2,7 triệu lượt người.
Châu Á vẫn là thị trường nguồn khách quan trọng nhất của Việt Nam năm 2018 với 12 triệu lượt khách, chiếm 77,9% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 23,7% so với năm 2017.
Tiếp theo là khách đến từ châu Âu với 2 triệu lượt khách, chiếm 13,1% tổng lượng khách quốc tế, tăng 8,1% so với năm 2017.
Khách đến từ châu Mỹ và châu Úc đạt lần lượt 903.000 lượt khách, chiếm 5,8% và 437.819 lượt khách, chiếm 3,2%.
Trong năm 2018, khách từ Trung Quốc đến Việt Nam nhiều nhất với gần 5 triệu lượt người, tăng 23,9% so với năm 2017.
Đứng thứ hai là khách đến từ Hàn Quốc với 3,4 triệu lượt người, tăng mạnh 44,3% so với năm 2017.
Tiếp theo là khách đến từ Nhật Bản với 826.000 lượt, tăng nhẹ 3,6% và khách đến từ Đài Loan đạt 714.000 lượt người, tăng gần 16% so với năm 2017.
Khách đến từ Mỹ đứng vị trí thứ năm với 687.000 lượt người, tăng gần 12% so với năm 2017.
Riêng khách đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ đã chiếm đến 69% tổng khách quốc tế đến Việt Nam. Trong đó, khách đến từ Trung Quốc và Hàn Quốc đóng góp 54,5% tổng số khách quốc tế đến Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, lượng khách đến từ Campuchia và Lào bị sụt giảm so với năm 2017. Cụ thể, khách đến từ Campuchia chỉ đạt 203.000 lượt người, giảm 8,8% và khách đến từ Lào đạt 120.000 lượt người, giảm 15,2% so với năm 2017.
Đây là cũng hai nước duy nhất có lượng khách đến Việt Nam sụt giảm trong năm 2018, còn lại khách đến từ các quốc gia khác đều tăng so với năm 2017.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát triển công nghiệp hàng hải theo tư duy hệ sinh thái, có trọng tâm, nâng cao năng lực tự chủ; không bao cấp trở lại, không đầu tư dàn trải và không để mất năng lực chiến lược.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Phú Thọ duy trì tăng trưởng trên 11%, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển công nghiệp công nghệ cao và xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng trong năm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Lào Cai đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế biên mậu, logistics, đẩy nhanh đầu tư công, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và tạo đột phá về chuyển đổi số.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.