Ngày 6/11, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Viện Nghiên cứu Giáo dục Nghề nghiệp tổ chức Hội thảo “Ứng dụng công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) trong phát triển giáo dục nghề nghiệp”.
Cuộc cách mạng AI đang nhanh chóng trở thành một động lực quan trọng, thay đổi toàn bộ bối cảnh kinh tế và xã hội thế giới. Theo báo cáo thị trường tuyển dụng 2024-2025 của TopCV, 61,2% doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng AI vào các hoạt động vận hành.
Bên cạnh đó, theo Anphabe, tự động hóa đang thay thế các vị trí công việc truyền thống, trong khi nhu cầu về nhân sự có khả năng làm chủ, tương tác và ứng dụng AI ngày càng tăng.
CÔNG CỤ HỖ TRỢ, GIÚP TĂNG HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGHỀ NGHIỆP
Theo PGS.TS. Phạm Quang Thao, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển đột phá của khoa học công nghệ, đặc biệt AI đã và đang trở thành công nghệ nền tảng, có thể ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị và xã hội.
Đối với giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp, việc ứng dụng công cụ AI mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần đổi mới toàn diện nội dung, phương pháp giảng dạy và quản lý. Mỗi lĩnh vực đào tạo nghề đều có đặc thù riêng, vì vậy việc ứng dụng AI cần được thiết kế phù hợp với từng ngành nghề cụ thể – từ cơ khí, điện tử, điện lạnh, may mặc...
Việc chia sẻ kinh nghiệm, mô hình và giải pháp thực tế giữa các cơ sở đào tạo là rất cần thiết để xác định những hướng đi khả thi, đồng thời hình thành khung chương trình chung cho ứng dụng AI trong giáo dục nghề nghiệp mang lại hiệu quả cao.
Chia sẻ vấn đề này, TS. Nguyễn Văn Nghị, Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ, nhấn mạnh trong kỷ nguyên kinh tế số và sự bùng nổ của các mô hình AI thế hệ mới như AI tổng quát (AGI), mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) và siêu AI đang được nghiên cứu và phát triển không ngừng, giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp đứng trước những cơ hội và thách thức mới mang tính chuyển đổi căn bản.
Theo ông Nghị, AI đang làm thay đổi bản chất của dạy- học/ học nghề thông qua các công cụ cá nhân hóa học tập, mô phỏng thực hành bằng VR/AR, hệ thống đánh giá dựa trên dữ liệu và trợ giảng ảo trong đào tạo nghề, từ đó tăng cường hiệu quả và giảm chi phí đào tạo.
Nêu rõ vai trò của AI trong giáo dục nghề nghiệp, ông Nguyễn Thành Hưng, Nguyên Phó Vụ trưởng, Hàm Vụ trưởng Vụ Quan hệ quốc tế, Văn phòng Chính phủ nhấn mạnh, trong bối cảnh chuyển đổi số, ngành giáo dục nghề nghiệp đang chịu áp lực phải trang bị cho người học cả kỹ năng chuyên môn và kỹ năng số. AI là công cụ hỗ trợ rất quan trọng, có khả năng tự động hóa quy trình, phân tích dữ liệu lớn và cá nhân hóa trải nghiệm học tập, từ đó giúp tăng hiệu quả đào tạo nghề nghiệp.
Ông Hưng cho rằng AI giúp cá nhân hóa học tập; hỗ rợ giảng dạy và quản lý; tương tác thực hành và mô phỏng kỹ năng; hướng nghiệp và tuyển sinh thông minh…
XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI, THÚC ĐẨY AI TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Hiện nay, nhiều trường nghề, cao đẳng đã tổ chức hội thảo, triển khai thí điểm ứng dụng AI trong quản lý và đào tạo; hệ thống trợ giảng, chatbot hỗ trợ học viên, phản hồi học tập nhanh. Một số cơ sở đã mô phỏng các kỹ năng nghề, ví dụ hướng dẫn từng bước trong lắp ráp, sửa chữa thiết bị bằng AR/VR kết hợp AI…
Tuy nhiên, theo ông Hưng, việc ứng dụng AI trong giáo dục nghề nghiệp còn nhiều thách thức về hạ tầng và nguồn lực khi cơ sở vật chất chưa đồng bộ; chương trình đào tạo giảng viên và nhân sự quản lý về AI còn ít, năng lực ứng dụng công nghệ vẫn là điểm nghẽn.
Không những thế, giáo dục nghề nghiệp có đặc thù mạnh kỹ năng thực hành, trực tiếp, trong khi AI thường gắn với học tập số và mô phỏng. Do đó, việc tích hợp sao cho không mất đi yếu tố thực hành là thách thức.
Đáng chú ý, ông Hưng cũng nêu lo ngại vấn đề học viên phụ thuộc vào AI, mất đi tư duy tự học và sáng tạo...
Từ thực tế triển khai, ông Lê Việt Cường, Trường Cao đẳng Điện tử- Điện lạnh Hà Nội cho biết nhiều trường nghề đã bước đầu ứng dụng AI trong giảng dạy và quản lý đào tạo. Tuy vậy, tỷ lệ trường nghề ứng dụng thường xuyên còn dưới 10%, do thiếu nhân lực công nghệ, hạ tầng chưa đồng bộ và chi phí đầu tư lớn.
Để khắc phục, ông đề xuất tăng cường đào tạo năng lực số cho giảng viên; phát triển học liệu mở về AI; thúc đẩy hợp tác ba bên “Nhà nước- Nhà trường- Doanh nghiệp” ; đồng thời hình thành diễn đàn thường niên về AI trong giáo dục nghề nghiệp để kết nối, chia sẻ kinh nghiệm và nhân rộng mô hình hiệu quả...
Nhấn mạnh ứng dụng AI trong giáo dục nghề nghiệp không chỉ là xu hướng mà là yêu cầu tất yếu để đáp ứng chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia, TS. Nghị, cho biết hiện mới khoảng 30% cơ sở giáo dục nghề nghiệp có phòng lab đạt chuẩn số.
Do đó, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái AI trong giáo dục nghề nghiệp, đồng bộ từ thể chế, dữ liệu, hạ tầng mô phỏng đến năng lực giáo viên và hợp tác doanh nghiệp- nhà trường, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn.
Ứng dụng AI là bước chuyển đổi căn bản của giáo dục nghề nghiệp, không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là giải pháp chiến lược để giải quyết các vấn đề cốt lõi như chất lượng thực hành, chi phí đào tạo, và tốc độ cập nhật chương trình theo thị trường lao động 4.0.
Tiềm năng là rất lớn, nhưng hiện tại giáo dục nghề nghiệp Việt Nam có những khoảng trống, hạn chế về hạ tầng công nghệ, mô phỏng, năng lực giáo viên, và chuẩn hóa dữ liệu. Việc xây dựng một hệ sinh thái AI trong giáo dục nghề nghiệp cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách vĩ mô (quản trị, đầu tư tập trung và xã hội hóa) và các hành động vi mô (thí điểm mô hình, đào tạo giáo viên).
TS. Nghị đề xuất 7 nhóm giải pháp trọng tâm giai đoạn 2025-2035 trong đó có hoàn thiện thể chế và chuẩn quản trị AI trong giáo dục nghề nghiệp, đầu tư các phòng lab mô phỏng và học liệu số ứng dụng AI; nâng cao năng lực giảng viên về phát triển và ứng dụng AI.
Ông cũng cho rằng cần phát triển cơ sở dữ liệu số, khung tiêu chuẩn kỹ năng số, kỹ năng nghề tích hợp AI. Thúc đẩy hợp tác công-tư trong đào tạo nghề; chú trọng và ưu tiên đào tạo kỹ năng số, kỹ năng AI cho người lao động; thí điểm và nhân rộng mô hình giáo dục nghề nghiệp thông minh.
Đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong giáo dục nghề nghiệp, ông Hưng cho rằng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần có chiến lược chuyển đổi số rõ ràng, xác định mục tiêu ứng dụng AI.
Cùng với đó cần đào tạo giảng viên, cán bộ quản lý về tư duy và kỹ năng sử dụng AI, phát triển văn hóa sử dụng công nghệ đổi mới. Các trường cũng cần hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, startup EdTech để xây dựng các ứng dụng phù hợp đào tạo nghề nghiệp; tích hợp phương pháp đào tạo hiện đại.
Ông cũng nhấn mạnh việc đảm bảo đạo đức và hiệu quả, xây dựng nguyên tắc sử dụng AI: học viên và giáo viên không phụ thuộc toàn bộ vào AI, vẫn giữ vai trò trung tâm, phát triển tư duy và sáng tạo. Đánh giá và đo lường hiệu quả: thiết lập KPI, nghiên cứu tác động của ứng dụng AI đến chất lượng đào tạo nghề nghiệp, kỹ năng đầu ra, tỷ lệ việc làm.
Ứng dụng AI trong giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam là xu hướng tất yếu, mang lại nhiều cơ hội để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu lao động trong thời đại số.
Tuy nhiên, theo ông Hưng, để khai thác hiệu quả thì cần vượt qua các rào cản về hạ tầng, năng lực con người, phương pháp đào tạo và đảm bảo sử dụng có trách nhiệm. Việc đồng bộ chiến lược, đầu tư bài bản và kết hợp giữa công nghệ và thực hành sẽ là chìa khóa để giáo dục nghề nghiệp thực sự “thông minh” và hiệu quả.
Theo đại diện Cục Quản lý Chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, ứng dụng AI trong giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng là xu thế tất yếu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảng dạy, học tập, đồng thời phục vụ quá trình chuyển đổi số toàn diện của ngành.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết Việt Nam hướng ứng dụng công nghệ hạt nhân không chỉ phục vụ chương trình điện hạt nhân mà còn mở rộng sang y tế, nông nghiệp và nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khác...
Thương mại điện tử hiện là môi trường kinh doanh của khoảng 3 triệu hộ kinh doanh và 2 triệu cá nhân kinh doanh. Đây là nguồn lực rất lớn để đóng góp và hiện thực mục tiêu cả nước có thêm ít nhất 1 triệu doanh nghiệp mới vào năm 2030...
Bộ Khoa học và Công nghệ đang hoàn thiện nền tảng số quản lý ngân sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cho phép theo dõi tình hình phân bổ, giải ngân đến từng đơn vị cấp xã...
Trường hợp bộ ngành hoặc địa phương chưa có quỹ phát triển khoa học, công nghệ, kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước tài trợ hoặc đặt hàng vẫn được phân bổ và giao dự toán trực tiếp cho các đơn vị trực thuộc của các bộ ngành và địa phương...
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 147/2024/NĐ-CP hiện quy định các tài khoản mạng xã hội dưới 16 tuổi chỉ được xem nội dung, không được đăng bài, bình luận, chia sẻ, bày tỏ cảm xúc hoặc thực hiện các hình thức tương tác khác trên nền tảng...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.