Tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Tiểu ban Văn kiện đã trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội.
Báo cáo tập trung làm rõ những nội dung trọng tâm và các điểm mới của hệ thống văn kiện, tạo cơ sở để Đại hội thảo luận và quyết định những định hướng lớn cho chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước.
Hệ thống dự thảo các văn kiện trình Đại hội gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Dự thảo Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011–2025) và định hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Trong đó, Dự thảo Báo cáo chính trị được xây dựng theo hướng tích hợp đồng bộ ba báo cáo lớn, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn và thuận lợi cho tổ chức thực hiện.
Báo cáo chính trị nhấn mạnh dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, nhiều yếu tố khó lường. Chỉ trong một tháng, gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên và nhân dân đã tham gia đóng góp hơn 14 triệu lượt ý kiến cho các dự thảo văn kiện.
Quá trình tổng hợp, tiếp thu được thực hiện nghiêm túc, khoa học, góp phần hình thành Báo cáo chính trị thể hiện sự kết tinh trí tuệ, ý chí và sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân.
Kết quả toàn diện của nhiệm kỳ Đại hội XIII tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng. Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ không ngừng được củng cố, tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khí thế, quyết tâm và khát vọng lớn hơn.
Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, Báo cáo chính trị khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đường lối đó nhất quán xác định Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp cách mạng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời xây dựng và hoàn thiện ba trụ cột nền tảng gồm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng qua bốn thập kỷ đổi mới, Báo cáo đúc kết năm bài học kinh nghiệm lớn. Trong đó, nổi bật là yêu cầu kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”; bám sát thực tiễn, nâng cao chất lượng thể chế và hiệu lực tổ chức thực hiện; không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược, bảo đảm sự nhất quán về mục tiêu và linh hoạt trong sách lược.
Trên cơ sở phương châm hành động “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, Báo cáo chính trị xác định mục tiêu tổng quát của giai đoạn tới là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững đất nước; cải thiện toàn diện đời sống Nhân dân; nâng cao năng lực tự chủ, tự cường; từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Theo đó, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD/năm; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 đạt từ 10%/năm trở lên. Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xã hội chủ nghĩa, hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Báo cáo chính trị xác định 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Các nhiệm vụ và giải pháp được cụ thể hóa trong chương trình hành động với tinh thần triển khai nhanh, quyết liệt, đo lường bằng kết quả thực chất.
Tám nội dung cốt lõi được nhấn mạnh gồm: hoàn thiện thể chế và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam; củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; phát triển xã hội lành mạnh, kỷ cương, văn minh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba đột phá chiến lược gồm: thể chế và thực thi, nguồn nhân lực và hạ tầng đồng bộ, hiện đại tiếp tục được xác định là những đòn bẩy then chốt. Bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV, yêu cầu đặt ra là phải triển khai các đột phá này với cường độ cao hơn, tiến độ nhanh hơn và hiệu quả rõ nét hơn.
Theo Báo cáo chính trị, tư tưởng xuyên suốt trong Văn kiện là “Dân là gốc”. Nhân dân giữ vai trò trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, động lực và nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân. Đảng phải gắn bó mật thiết, tận tâm phục vụ, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết định.
Niềm tin của Nhân dân được tạo dựng từ việc làm, từ sự liêm chính của cán bộ, hiệu quả của bộ máy, sự công bằng trong thụ hưởng và kết quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời các bức xúc chính đáng của người dân và doanh nghiệp. Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra là chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, bởi đây là nền tảng của quốc phòng, an ninh và điều kiện để cải cách đi tới cùng.
Văn kiện chỉ rõ hạn chế lớn là nhiều chủ trương đúng nhưng tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu, vì vậy nhấn mạnh yêu cầu hành động và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ; khắc phục tình trạng nói nhiều làm ít, thiếu kiểm tra, giám sát, triển khai chậm và hiệu quả thấp.
Để chuyển quyết tâm thành kết quả, cần tập trung vào năm nhóm việc: cụ thể hóa mục tiêu và trách nhiệm; tăng cường kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý kịp thời; huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực, chống lãng phí; xây dựng văn hóa công vụ liêm chính, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo; và làm tốt công tác thông tin, truyền thông để tạo đồng thuận xã hội.
Việc tổ chức thực hiện phải gắn với kỷ luật, kiểm soát quyền lực, minh định trách nhiệm, xử lý sai phạm và ghi nhận, bảo vệ những nỗ lực vì dân, vì nước. Trên nền tảng truyền thống, thành quả đổi mới, sức mạnh đại đoàn kết và thế trận lòng dân, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tạo chuyển biến thực chất và phát triển bứt phá.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng nhằm hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, phát triển thị trường và đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng của đất nước.
Việt Nam và Canada chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược, xác lập 8 trụ cột hợp tác từ kinh tế, thương mại, công nghệ, năng lượng đến quốc phòng, giáo dục và giao lưu nhân dân, đồng thời nhất trí xây dựng Kế hoạch hành động để triển khai các mục tiêu mới.
Việt Nam và Canada cần sớm cụ thể hóa khuôn khổ Đối tác Chiến lược bằng chương trình hành động với các ưu tiên, đầu mối thực hiện và lộ trình rõ ràng; khai thác hiệu quả CPTPP, thúc đẩy thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và kết nối chuỗi cung ứng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị đưa hợp tác nghị viện trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Canada, đồng thời thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Canada mở rộng hợp tác kinh tế, đầu tư, khoa học - công nghệ, năng lượng, hạ tầng và chuỗi cung ứng, tạo thêm những động lực tăng trưởng mới cho quan hệ song phương.
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Chỉ khoảng 105.000 đồng mỗi hộp, những sản phẩm An Cung giả được đưa qua nhiều tầng trung gian rồi bán đến tay người tiêu dùng với giá gần 3 triệu đồng. Đáng chú ý, các đối tượng sử dụng viên hoàn và nguyên liệu không rõ nguồn gốc để đóng gói, dán nhãn thành sản phẩm hàng ngoại.