Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (World Wide Fund for Nature- WWF) phối hợp với Trung tâm Giám sát và Điều hành đô thị thông minh thành phố Huế (HueIOC) triển khai chuỗi giải pháp ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo vào giám sát, xử lý hành vi vi phạm liên quan đến rác thải. Đây là bước đi cụ thể trong lộ trình chuyển đổi số công tác quản lý chất thải, hướng tới xây dựng đô thị xanh – thông minh – bền vững.
Theo mô hình “kết nối đa chiều”, công nghệ AI được tích hợp vào hệ thống camera giám sát để tự động nhận diện rác thải, phát hiện hành vi vi phạm và chuyển cảnh báo ngay sang ứng dụng Hue-S. Toàn bộ dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực, giảm tối đa khâu xác minh thủ công vốn tốn nhiều thời gian và nhân lực.
Điểm mới của mô hình là đặt người dân vào vị trí trung tâm. Thông qua Hue-S, người dân có thể gửi phản ánh hiện trường, tham gia khảo sát và đồng hành cùng chính quyền trong các hoạt động như “Chủ nhật xanh”, “Thử thách làm cho Huế sạch hơn”. Cơ chế này hình thành một vòng tuần hoàn khép kín: giám sát – phản ánh – xử lý – thay đổi thói quen.
Song song đó, dữ liệu về vị trí thùng rác, điểm tập kết, khối lượng rác thu gom được số hóa và tích hợp vào bản đồ thông minh. Hệ thống dữ liệu mở giúp chính quyền ra quyết định kịp thời, minh bạch; đồng thời cho phép người dân và doanh nghiệp tiếp cận thông tin, tham gia vào quá trình quản lý đô thị.
Ông Trần Trọng Hiếu, Giám đốc Trung tâm HueIOC, cho biết đây không phải dự án ngắn hạn mà là nền móng cho chiến lược phát triển Huế theo ba trụ cột: công nghệ, kinh tế tuần hoàn và văn hóa cộng đồng. Thời gian tới, HueIOC sẽ mở rộng ứng dụng AI tại các điểm du lịch, khu dân cư trọng điểm; phát triển hệ thống phân tích dữ liệu lớn để dự báo xu hướng phát sinh rác thải, từng bước chuyển từ quản lý bị động sang quản lý chủ động.
Ở góc độ kinh tế tuần hoàn, thành phố định hướng gắn phân loại rác với tái chế, tái sử dụng. Nhựa có thể tái chế thành vật liệu xây dựng; rác hữu cơ được xử lý thành phân bón sinh học. Nếu triển khai hiệu quả, đây không chỉ là giải pháp môi trường mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế mới cho người dân.
Đại diện Dự án “Huế - Đô thị giảm nhựa ở miền Trung Việt Nam” cho biết, thông qua các phong trào và cuộc thi trên Hue-S, hàng chục tấn rác đã được phân loại, thu gom; trong đó có hàng nghìn kg rác hữu cơ, nhựa, kim loại, giấy được xử lý đúng cách. Kết quả này cho thấy khi công nghệ gắn với sự tham gia của cộng đồng sẽ tạo ra thay đổi thực chất.
Anh Nguyễn Thành Nam, trú tại phường Thuận Hóa chia sẻ, môi trường đô thị ngày càng cải thiện, rác thải trên nhiều tuyến đường giảm rõ rệt. Ý thức người dân trong khu dân cư cũng chuyển biến tích cực, nhiều hộ chủ động phân loại và bỏ rác đúng nơi quy định.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng một số khu vực vẫn tồn tại tình trạng tập kết rác thải tự phát, đặc biệt là tại khu quy hoạch Làng Đại học Huế, phường An Cựu. Tình trạng này kéo dài không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng mỹ quan đô thị.
Trước thực trạng đó, lãnh đạo thành phố yêu cầu rà soát, lắp đặt bổ sung camera tại các khu vực nhạy cảm; đặt biển cảnh báo, barie ngăn chặn và tổ chức thu gom, xử lý dứt điểm lượng rác tồn đọng. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, kể cả trường hợp tái phạm.
Phường An Cựu là một trong những địa phương triển khai hệ thống camera giám sát sớm. Thông qua hệ thống này, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý nhiều trường hợp đổ rác thải xây dựng, rác sinh hoạt sai quy định; yêu cầu thu dọn và ký cam kết không tái diễn.
Tại phường Mỹ Thượng, ngoài hệ thống camera an ninh, địa phương lắp đặt thêm camera chuyên giám sát trật tự đô thị và trật tự xây dựng. Lãnh đạo phường cho biết, tốc độ đô thị hóa nhanh đòi hỏi phải tăng cường công cụ giám sát nhằm kiểm soát hiệu quả tình trạng xả thải và lấn chiếm lòng, lề đường.
Hiện nay, toàn bộ 40 xã, phường trên địa bàn thành phố Huế đã lắp đặt nhiều điểm camera giám sát phục vụ quản lý trật tự đô thị, vệ sinh môi trường và an toàn giao thông.
Tuy nhiên, theo đánh giá của cơ quan chức năng, camera chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trong tổng thể giải pháp đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, lực lượng chức năng và cộng đồng dân cư.
Kế hoạch trong thời gian tới, Thành phố xác định tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, bổ sung biển cấm đổ rác, bố trí điểm tập kết hợp lý; đồng thời phát huy vai trò của tổ dân phố, đoàn thể và mô hình “Tổ tự quản đảm bảo trật tự đô thị” gắn với phong trào “Chủ nhật xanh”.
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Chiều ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.