
Theo danh sách công khai các đơn vị nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề, tính đến 14/2/2023, tỉnh Nghệ An có 756 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền lên tới hơn 173 tỷ đồng.
Theo quy định của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hàng tháng cơ quan bảo hiểm xã hội các địa phương phải công khai các đơn vị nợ bảo hiểm xã hội, số tiền nợ lên website của ngành. Thực hiện quy định này, hàng tháng, Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An đều cập nhật, niêm yết công khai các thông tin của các đơn vị nợ bảo hiểm, số lao động của đơn vị tại tháng đó, số tiền nợ của đơn vị, số tháng nợ.
Trong 756 đơn vị nợ bảo hiểm tại tỉnh Nghệ An, đơn vị có số nợ bảo hiểm lớn nhất là hơn 21 tỷ đồng, ít nhất là hơn 5 triệu đồng, với thời gian bị nợ bảo hiểm thấp nhất là 3 tháng, nhiều nhất là 145 tháng.
Những doanh nghiệp nợ bảo hiểm “khủng” phải kể đến như: Công ty CP Đầu tư và xây dựng 24 (trụ sở tại xã Nghi Phú, TP. Vinh) nợ hơn 21,5 tỷ đồng; Công ty CP 482 (phường Lê Lợi, TP. Vinh) nợ hơn 16,7 tỷ đồng; Công ty CP Xây dựng thủy lợi I (trụ sở tại phường Đông Vĩnh, TP. Vinh) nợ hơn 9,8 tỷ đồng; Công ty CP Nam Thuận (trụ sở tại xã Diễn Mỹ, huyện Diễn Châu) nợ hơn 9,1 tỷ đồng.
Công ty CP Xây dựng và thương mại 423 (trụ sở tại phường Quang Trung, TP. Vinh) nợ hơn 7,5 tỷ đồng; Tổng công ty Xây lắp dầu khí Nghệ An (trụ sở tại phường Hưng Bình, TP. Vinh) nợ hơn 5,6 tỷ đồng; Công ty CP Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông 9 (trụ sở tại phường Đông Vĩnh, TP. Vinh) nợ gần 4,5 tỷ đồng…
Trong năm 2022, đoàn liên ngành tỉnh Nghệ An đã làm việc với hơn 160 đơn vị nợ có số nợ cao, thời gian nợ kéo dài. Đồng thời, đoàn cũng thực hiện thanh tra chuyên ngành đột xuất tại hơn 300 đơn vị, thu hồi hơn 81 tỷ đồng tiền nợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế tại các đơn vị sử dụng lao động.
Mặc dù đã cố gắng triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường công tác thu, giảm nợ bảo hiểm xã hội, nhưng tỷ lệ nợ bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An vẫn ở mức cao. Trong đó, số nợ của khối doanh nghiệp có tỷ lệ lớn nhất.
Tìm hiểu về nguyên nhân nhiều đơn vị trên địa bàn nợ bảo hiểm xã hội cho thấy có bốn lý do chủ yếu:
Thứ nhất, các đơn vị này chưa thực sự quan tâm thực hiện các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Thứ hai, các đơn vị, doanh nghiệp ở tình trạng ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc chủ sử dụng lao động bỏ trốn, mất tích nên rất khó giải quyết việc nợ này.
Thứ ba, tổ chức công đoàn kiện đơn vị sử dụng lao động ra tòa còn khó triển khai vì những vướng mắc về thủ tục; xử lý hình sự đối với tổ chức, cá nhân vi phạm vẫn chưa được áp dụng, chưa có chủ sử dụng lao động nào bị khởi tố, xử lý do quan điểm về hành vi “trốn đóng bảo hiểm xã hội” chưa có sự thống nhất cao giữa các cơ quan tố tụng.
Thứ tư, số doanh nghiệp nợ do chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, các đơn vị bước đầu khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, tuy nhiên, tốc độ phục hồi còn chậm nên chưa có khả năng thanh toán các khoản nợ.
Cần phải thấy rõ bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chính sách trong hệ thống an sinh xã hội. Đây là công cụ quan trọng của chính sách thị trường lao động nhằm góp phần điều tiết quan hệ cung - cầu trênthị trường lao động.
Việc trên 700 doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm thất nghiệp đã ảnh hưởng đến cuộc sống của người lao động tại đây khi bị mất việc làm và cũng làm ảnh hưởng việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp của Đảng, Nhà nước.
Từ các nguyên nhân trên, tỉnh Nghệ An, tiếp tục đưa ra các giải pháp để giải quyết “bài toán khó” về nợ bảo hiểm này. Bảo hiểm xã hội tỉnh đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp nhằm đôn đốc thu bảo hiểm như tổ chức thu nợ trực tiếp tại các đơn vị hoặc mời đơn vị đến trụ sở cơ quan bảo hiểm.
Tuy nhiên, về các cơ quan khác như Sở lao động, các cơ quan Đảng, chính quyền của tỉnh cũng phải tham gia vào công tác thu nợ này.
Trước hết, phải làm cho các doanh nghiệp này thật sự quan tâm và có trách nhiệm với chính sách bảo hiểm thất nghiệp đồng thời nhằm lắng nghe chia sẻ của các đơn vị về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động để có sự hỗ trợ kịp thời, tháo gỡ khó khăn cùng đơn vị, cũng đôn đốc các đơn vị trong việc nộp các quỹ bảo hiểm đầy đủ, kịp thời, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
Các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường lao động cũng phải có trách nhiệm để phát triển thị trường lao động lành mạnh, cần phải có chế, tài nếu không thực hiện đúng.
Việc kiến nghị các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung quy định về đại diện trong tố tụng để tạo cơ sở cho tổ chức công đoàn cấp trên đại diện cho người lao động khởi kiện doanh nghiệp đòi nợ bảo hiểm xã hội là rất cần thiết.
Cần điều chỉnh mức xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội phù hợp với tính chất và mức độ nghiêm trọng của lĩnh vực. Thực tế hiện nay mức xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội vẫn còn thấp, chưa phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và quy mô của việc sử dụng lao động tại doanh nghiệp.
Mặt khác cũng cần thấy rằng, hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào quy định về trường hợp người sử dụng lao động không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về bảo hiểm thất nghiệp (do gặp khó khăn về tài chính, phá sản, bị rút giấy phép kinh doanh, không có người đại diện theo pháp luật… dẫn đến chậm đóng, thiếu đóng hoặc không có khả năng đóng đầy đủ cho người lao động, người lao động gặp khó khăn trong việc làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp do không đủ điều kiện về đóng bảo hiểm thất nghiệp .
Do đó cần bổ sung quy định theo hướng trong trường hợp người lao động gặp trường hợp bị chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp mà không do lỗi của người lao động thì vẫn đủ điều kiện được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.




Theo Báo cáo Chỉ số xu hướng công việc (Work Trend Index) 2026 do Microsoft Việt Nam công bố ngày 24/6, lao động Việt Nam đang sẵn sàng cao về ứng dụng AI. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ có thể chuyển hóa thành năng suất và sức cạnh tranh khi doanh nghiệp tái thiết kế cách vận hành.
Lynk & Co đưa ra khái niệm thương hiệu New Premium, mang về nước nhiều dòng xe mới để tìm khẩu vị của khách Việt, mở rộng hệ thống phân phối và đa dạng hoạt động tiếp cận người dùng.
Trước những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, đặc biệt là EUDR, việc xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng đang trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Đây không chỉ là nền tảng phục vụ quản lý, điều hành ngành nông nghiệp và chuyển đổi số, mà còn là “hộ chiếu” dữ liệu giúp doanh nghiệp truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu...
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) không chỉ dừng lại ở việc bổ sung ưu đãi, mà đòi hỏi một cuộc cách mạng về tư duy lập pháp: Lấy doanh nghiệp làm trung tâm và chuyển từ tư duy “Nhà nước có gì hỗ trợ nấy” sang “doanh nghiệp cần gì hỗ trợ đó”...
Tàu container MATZ MAERSK với trọng tải hơn 213.970 DWT và sức chở khoảng 18.270 TEU vừa cập Cảng Container Quốc tế Hateco Hải Phòng, đánh dấu bước tiến quan trọng của khu bến cảng Lạch Huyện trong việc tiếp nhận thế hệ tàu container siêu lớn,đồng thời nâng cao năng lực kết nối trực tiếp của hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam với các tuyến vận tải quốc tế...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Cuối tháng 6 này, sàn giao dịch tín chỉ carbon dự kiến sẽ chính thức được đưa vào vận hành. Hiện các đơn vị liên quan đang khẩn trương hoàn thiện các hạng mục bảo đảm hoạt động đăng ký, lưu ký, giao dịch và thanh toán hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được thực hiện thông suốt, minh bạch và hiệu quả.