
Khách hàng xin trả chậm, thay đổi cơ cấu về nhu cầu sản phẩm… những điều này đang khiến ngành chè lao đao.
Theo thống kê đến tháng 10/2008, lượng hàng xuất khẩu cả nước mới chỉ đạt 90 ngàn tấn, trị giá 127 triệu USD. So với cùng kỳ 2007, về lượng hàng xuất đi đã giảm tới 6.700 tấn. Nhưng về trị giá lại gần bằng kim ngạch của cả năm 2007.
Lý giải về điều này, TS. Trần Văn Giá, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Chè Việt Nam cho biết: đầu năm 2008, khách hàng lớn của ngành chè Việt Nam là Trung Quốc đột ngột không nhập hàng, khiến cho một lượng lớn chè thành phẩm bị ứ đọng không tiêu thụ được. Một số khách hàng khác cũng ép giá đối với sản phẩm chè của Việt Nam.
Tuy nhiên, sau sự việc này, các doanh nghiệp đã bắt đầu chú ý hơn đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì thế, sau thời gian ngắn ảm đạm, giá chè của Việt Nam đã tăng đáng kể đạt mức bình quân 1.396 USD/tấn, tăng 18% so với giá cùng kỳ năm trước.
Nhưng tới các tháng gần đây, lượng hàng xuất khẩu vẫn tiếp tục giảm. Tháng 10, theo kế hoạch xuất hàng là 11 ngàn tấn nhưng thực tế chỉ xuất được khoảng 9.500. Tháng 11, dự kiến là 10 ngàn tấn nhưng lượng xuất thực tế chỉ là trên 8.000 tấn.
Theo ước đoán, những con số sụt giảm này có thể tiếp tục cả trong tháng 12 này. Như vậy, hết năm 2008, dự tính cả nước chỉ có thể xuất được 115 ngàn tấn chè với kim ngạch thu về khoảng 150 triệu USD. Trong khi đó, hồi đầu năm, ngành chè ước tính trong năm 2008, xuất khẩu chè sẽ đạt 130 ngàn tấn, kim ngạch thu về khoảng 170 triệu USD.
Theo TS. Giá, nguyên nhân chính khiến cho lượng chè xuất khẩu của nước ta giảm mạnh trong những tháng gần đây là do tình hình lạm phát tăng cao ở hầu hết các nước đã khiến cho người tiêu dùng phải thắt chặt các khoản chi tiêu. Tình hình này đã khiến nhiều nhà đầu cơ trên thế giới có xu hướng rút vốn đầu tư vào nông sản.
Do đó, tuy các hợp đồng đều đã được ký từ đầu năm hoặc giữa năm nhưng do khó khăn về thanh toán những khách hàng này đã yêu cầu giãn kế hoạch giao hàng.
Thậm chí có những khách hàng còn yêu cầu thay đổi về cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng lượng hàng tốt giảm lượng hàng có chất lượng trung bình (điều này lại liên quan nhiều đến công nghệ chế biến). Tiếp đến là họ yêu cầu được trả chậm.
Tất cả những điều đó đã gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp chè trong nước, khi hầu hết đều là những doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ. Cộng thêm với những khó khăn trước đó như lãi suất cơ bản ở mức cao, khả năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế đã khiến không ít doanh nghiệp ngay từ những tháng chính vụ đã phải tạm đóng cửa.
Với tình hình tiêu thụ sản phẩm như hiện nay, không chỉ các các doanh nghiệp chế biến mà người trồng chè cũng bế tắc. Hiện ở nhiều vùng chuyên canh, giá chè nguyên liệu hiện đã giảm tới 50% nhưng người dân vẫn không thể bán nổi dù thời điểm cuối năm chất lượng chè nguyên liệu là khá tốt.
“Nếu tình trạng trên của ngành chè không nhanh chóng được tháo gỡ bằng những chính sách hỗ trợ về tín dụng như khoanh nợ, giãn nợ và nâng hạn mức tín dụng để doanh nghiệp có thể tiếp tục vay để sản xuất thì sang năm tới, tình hình của ngành sẽ càng thêm bi đát”, ông Giá nhận định.
Ông nói, đối với ngành chè, để chuẩn bị cho vụ thu hoạch chính từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, ngay từ đầu năm việc chăm bón cho cây chè là vô cùng quan trọng. Nếu thiếu vốn để đầu tư thì niên vụ tới diện tích và sản lượng không thể đảm bảo, kéo theo sản lượng và kim ngạch cũng có thể không được duy trì ở mức của năm 2008.
Từ năm 2000, ngành chè đều có tốc độ tăng trưởng từ 7- 9%/năm. Năm 2007, lượng xuất khẩu chính ngạch đạt 110 ngàn tấn, kim ngạch thu về là 130 triệu USD. Kết quả này đã đưa Việt Nam trở thành nước thứ 5 trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ, Scrilanca, Kenya.
Việt Nam có 34/63 tỉnh, thành phố có diện tích trồng chè, chủ yếu tập trung ở trung du và miền núi với gần 130 ngàn ha. Hiện có khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến 10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) và hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến chè tại gia đình. Đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè.
Triển lãm Kết nối Chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế (Viet Nam International Sourcing Expo - VIS 2026) không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán, mà còn giúp doanh nghiệp “nghe” được nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất, nâng chất lượng, chuyển đổi xanh và gia tăng giá trị...
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Hệ thống cảnh báo nhanh của Liên minh châu Âu (RASFF) ghi nhận 10 trường hợp nông, thủy sản Việt Nam vi phạm quy định an toàn thực phẩm trong tháng 7 và tháng 8/2026, đặt ra yêu cầu cấp thiết về siết chặt kiểm soát chất lượng xuất khẩu...
Hải Phòng có 9/10 chỉ tiêu kinh tế - xã hội tháng 8 vượt kịch bản tăng trưởng, duy chỉ có chỉ số sản xuất công nghiệp là chưa đạt…
VIS 2026 là cầu nối chiến lược đưa doanh nghiệp Việt vào chuỗi phân phối toàn cầu, chuyển dịch từ xúc tiến thương mại sang kết nối cung - cầu thực chất và thu hút dòng vốn đầu tư bền vững...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.