Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong tháng 9/2024, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 65,81 tỷ USD, giảm 8% so với tháng 8/2024 và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2023. Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 578,47 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2023; trong đó xuất khẩu tăng 15,4%, nhập khẩu tăng 17,3%.
Cụ thể, về xuất khẩu, trong tháng 9/2024 đạt 34,05 tỷ USD, giảm 9,9% so với tháng 8/2024, so với cùng kỳ năm 2023 tăng 10,7%. Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 299,63 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 83,47 tỷ USD, tăng 20,7%, chiếm 27,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 216,16 tỷ USD, tăng 13,4%, chiếm 72,1%. Trong 9 tháng năm 2024 có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đặc biệt, trong số này có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 66,4%.
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng năm 2024, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 3,29 tỷ USD, chiếm 1,1%; nhóm hàng công nghiệp chế biến sơ bộ đạt 263,47 tỷ USD, chiếm 87,9%; nhóm hàng nông sản, lâm sản sơ bộ đạt 25,64 tỷ USD, chiếm 8,6%; nhóm hàng thủy sản sơ bộ đạt 7,23 tỷ USD, chiếm 2,4%.
Từ chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2024 sơ bộ đạt 31,76 tỷ USD, giảm 5,9% so với tháng 8/2024, so với cùng kỳ năm 2023 tăng 11,1%. Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 278,84 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 100,85 tỷ USD, tăng 18,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 177,99 tỷ USD, tăng 16,5%.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 9 tháng năm 2024, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 261,5 tỷ USD, chiếm 93,8%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 47,3%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 46,5%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng sơ bộ đạt 17,34 tỷ USD, chiếm 6,2%.
Về thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2024, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 89,4 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 105 tỷ USD. Trong 9 tháng năm 2024, xuất siêu sang Hoa Kỳ ước đạt 78,5 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2023; xuất siêu sang EU ước đạt 25,9 tỷ USD, tăng 20,8%; xuất siêu sang Nhật Bản đạt 1,9 tỷ USD, tăng 28,8%; nhập siêu từ Trung Quốc 61,4 tỷ USD, tăng 70,1%; nhập siêu từ Hàn Quốc 22,6 tỷ USD, tăng 9,2%; nhập siêu từ ASEAN 6,2 tỷ USD, tăng 9,3%.
Đánh giá về hoạt động xuất nhập khẩu trong 9 tháng năm 2024, Bộ Công Thương nhấn mạnh đây tiếp tục là điểm sáng nổi bật, ghi nhận sự phục hồi tích cực so với cùng kỳ năm 2023. Đặc biệt, hoạt động xuất khẩu tăng trưởng ở tất cả các nhóm hàng, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước có tốc độ tăng gấp gần 2 lần so với tốc độ tăng của khối doanh nghiệp FDI. Đây là tín hiệu rất đáng mừng...
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2024 phát hành ngày 14/10/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “tấm vé thông hành” khẳng định uy tín sản phẩm, mà còn là công cụ nâng cao giá trị đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế pháp lý này thành giá trị thương mại bền vững, các địa phương và doanh nghiệp cần vượt qua nhiều điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thị trường...
Việc xây dựng Nghị quyết về FTZ và ILZ tại TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng tạo thêm động lực cho thương mại, logistics và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cơ chế mới phải thực sự khác biệt, linh hoạt và có khả năng triển khai nhanh, nếu không FTZ khó tạo ra giá trị mới...
Xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng trước bài toán nâng giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Với lợi thế lớn về Robusta, việc kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu, phân hóa sản phẩm và đổi mới phương thức thu mua được xem là những yêu cầu then chốt để nâng giá trị hạt cà phê...
Thương mại điện tử đang giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu, trong khi AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số có thể làm thay đổi cách xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, công nghệ không xóa bỏ những rào cản căn bản của xuất khẩu. Để hàng Việt đi xa, cần kết nối dữ liệu thị trường, tiêu chuẩn, logistics, nền tảng số và nhà mua hàng thành một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp...
Xuất khẩu phân bón Việt Nam bứt phá mạnh mẽ cả về lượng lẫn giá trị, trong khi nhập khẩu giảm sâu, khẳng định năng lực sản xuất nội địa được nâng cao. Tận dụng tốt nhu cầu quốc tế, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như urê, NPK, DAP để mở rộng thị trường và gia tăng kim ngạch...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Theo kết quả chấm điểm về giải ngân vốn đầu tư công tháng 8/2026 do Bộ Tài chính vừa công bố, Thanh Hóa nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tốc độ giải ngân đầu tư công rất tốt, xếp thứ 17 trong số 34 tỉnh, thành phố về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; xếp thứ 12 về giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026. Kết quả này tiếp tục cho thấy sự chuyển động tích cực trong tổ chức thực hiện, đồng thời tạo thêm động lực để tỉnh khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đưa nguồn vốn đầu tư thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.